31 thg 12, 2015

MỘT ĐỘC GIẢ THẮC MẮC VỀ LÃI SUẤT ÂM (BẰNG ĐỒNG USD) Ở VN SẮP ÁP DỤNG VÀ MỸ CÓ LÃI SUẤT ÂM KHÔNG?

MỘT ĐỘC GIẢ THẮC MẮC VỀ LÃI SUẤT ÂM (BẰNG ĐỒNG USD) Ở VN SẮP ÁP DỤNG VÀ MỸ CÓ LÃI SUẤT ÂM KHÔNG?

Tất nhiên về lý thuyết lãi suất âm cần phải so sánh về tỷ lệ lạm phát như thế nào,...Ở đây tôi bỏ qua hàm ý đầu tư về lãi suất đó, mà đi vào con số thật. Đó là tại Mỹ không có lãi suất âm, và lãi suất cơ bản hay lãi suất chỉ đạo "Fed Funds Rate" ấn định mức thấp nhất là 0,25% đã áp dụng nhiều năm qua, và nay là 0,5%.
Ngoài ra Chính phủ Mỹ còn có khí cụ đầu tư huy động vốn từ người già về hưu hay những người lựa chọn những trái phiếu đầu tư an toàn, là trái phiếu của Chính phủ Mỹ được dùng bảo vệ người đầu tư tránh khỏi lạm phát, đó là trái phiếu "TIPS", viết theo tiếng Anh là "Treasury Inflation Protected Securities".
Nói chung, đây là hình thức đầu tư không mới, nó bảo vệ cho người lớn tuổi về hưu tiềm kiếm hầm trú ẩn an toàn nhất. Thực tế là không lời nhiều, nhưng có điều chắc chắn là những người đầu tư mua vào loại trái phiếu này TIPS sẽ không lo bị thiệt hại khi đồng USD mất giá hay khi mức lạm phát tăng cao. Đó là bởi vì Chính phủ Liên bang cam kết sẽ trả sát mức lãi suất tăng theo kịp với đà lạm phát. Tất nhiên, nếu xảy ra tình trạng giảm phát thì những người đầu tư sở hữu loại trái phiếu TIPS này sẽ không có lời nhiều nhưng cũng chẳng bị lỗ vốn khi đưa tiền cho chính phủ Mỹ giữ hộ.
Qua đó cho thấy, Mỹ họ còn "bảo hiểm" cho người ký thác bằng nhiều hình thức đầu tư đa dạng với lãi suất dù sao cũng không mang tiếng gọi là "bóc lột" tài sản người khác. Còn những thứ lãi suất âm tại Âu châu đang diễn ra với nhiều lý do của họ nên VN không thể áp dụng nó được khi quốc gia này phải cần rất nhiều nợ với vốn rẻ để phát triển đất nước thay vì đi vay lãi bằng ngoại tệ với lãi suất bốc lên trời, dân chúng thì giữ chặt "đô la" không chịu nhả ra,...vì nhiều lý do, vì cũng chẳng ai có quyền phải đi xét từng cái ví của người dân ra đếm là có bao nhiêu "đô la" cất giữ trong dân. Thuần về kinh tế mà nói khi dân chúng có nhiều tài sản bằng USD, EUR, vàng,...thì đó nên mừng chứ không phải quá lo lắng, quan trọng là niềm tin vào đồng nội tệ VND như một độc giả gửi đường link cho tôi tại đây: http://tuoitre.vn/tin/kinh-te/gui-tiet-kiem-20-nam-mot-can-ho-con-ba-to-pho/718520.html
Đối với VN, Trong động thái mới đây có độc giả hỏi tôi rằng khi ông Nguyễn Văn Bình, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam gợi ý rằng trong tương lai khi các doanh nghiệp hoặc cá nhân, các hộ gia đình gửi ngoại tệ (chủ yếu có lẽ là đồng USD) vào ngân hàng mà không có lãi lại còn phải trả lệ phí tiền gửi cho ngân hàng ?
Tôi xin trả lời rằng, tôi chưa kiểm chứng các nguồn tin độc lập rõ ràng. Vì đây là chuyện nội bộ của VN, nếu muốn có con số xác đáng phải chờ một thời gian dài đáng kể để biết phản ứng của thị trường, công chúng và giới đầu tư.
Tất nhiên, nếu có nguồn tin xác thực việc các trương chủ ký thác tiền gởi bằng ngoại tệ vào các ngân hàng với lãi suất bằng không thì đó cũng do phía trương chủ tự quyết định, vì xưa nay những ai có khối tài sản lớn làm ra bằng "mồ hôi nước mắt" của họ thì họ tự biết phải làm gì để bảo vệ tài sản của họ, nên không cần phải nghe những chuyên gia kinh tế "tiến sĩ" Lê Xuân Nghĩa, Viện trưởng Viện Nghiên cứu kinh doanh (BID) như bài báo này: http://cafef.vn/tai-chinh-ngan-hang/quan-ngoai-te-nhu-siet-thi-truong-vang-2015122908283392.chn    dẫn nguồn bình luận chắc nịch là "Chủ trương của NHNN thu phí tiền gửi là đúng”. Đó là phát ngôn liều lĩnh mù quáng, của ông "tiến sĩ" (trong ngoặc kép này).
Thực tế, do ông Thống đốc Nguyễn Văn Bình mới chỉ gợi ý thăm dò dư luận và nó chưa được thi hành áp dụng thì lấy cớ gì mà ông Lê Xuân Nghĩa đã nói hớ là đúng. Người cầm tiền và người giữ tiền chứ đâu phải ông Lê Xuân Nghĩa này đâu mà dám nói vậy thì quả là hết biết.
Nói chung, đây là chuyện rất phức tạp, bởi lẽ những trương chủ ký thác họ sử dụng ngoại tệ với nhiều tính toán khác nhau. Cụ thể như cho con cái đi du học, đi du lịch mua sắm ở nước ngoài, vì họ làm ra tiền mà chứ có đi vay hay xin xỏ ngân hàng đâu. Đó là quyền tối thiểu của bất cứ quốc gia nào đeo đuổi mục đich "kinh tế thị trường và đã ký các hiệp định thương mại,...". Thứ nữa là các ngân hàng khi nhận tiền ký thác họ cũng lấy nghiệp vụ đầu tư cho vay kiếm lời ở giữa nhờ sai biệt lãi suất ký thác và lãi suất cho vay ra.
Nếu bây giờ các trương chủ ký thác tiền gửi bằng nhiều ngoại tệ (vẫn chủ yếu là đồng USD) mà đưa ra biện pháp hành chính lẫn hình sự là khi họ gửi ngoại tệ mà buộc họ rút tiền ký thác ra bằng đồng bạc VND thì đó vi phạm quyền sở hữu tài sản riêng tư của người ta. Ngay cả đất nước Venezuela, Argentina,... bị khủng hoảng ngoại tệ họ còn không dám liều lĩnh đưa ra các biện pháp này.
Nói chung, đây chỉ là gợi ý thôi, nó chưa áp dụng về lãi suất âm hay hoán đổi ngoại tệ. Nếu thị trường phản ứng mạnh thì phía NHNN họ sẽ biết phải làm gì để sửa chữa. Còn kiểu phát biểu như ông Viện trưởng Lê Xuân Nghĩa thì hết ai có thể bình luân về ông này. Trong quá khứ ông này đã có những phát ngôn so sánh kinh tế Mỹ và VN thì rõ cả.
Hiện nay Argentina là quốc gia có các khoản nợ nần toàn yết giá bằng ngoại tệ, chủ yếu là đồng USD, và đồng Peso của Argentina ký hiệu là ARS đã giảm giá nặng nề trong 1 năm qua, khi giảm đến 51,65% giá trị so với đồng USD, đẩy gánh nợ nước ngoài tăng vọt, dự trữ ngoại tệ còn thấp hơn VN rất nhiều chỉ còn 20,5 tỷ USD. Nhưng các ngân hàng thương mại tại Argentina vẫn đảm bảo quyền gửi và quyền rút bằng ngoại tệ hay nội tệ tùy khách hàng muốn, mặc dù quốc gia này đang trả lãi vay và phí tổn rất lớn lãi suất bằng đồng USD.

Phương Thơ, Morgan Stanley (NYSE: MS)

30 thg 12, 2015

VIỆT NAM CÓ BẮT CHƯỚC ĐƯỢC CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN KINH TẾ NHƯ HÀN QUỐC ĐƯỢC HAY KHÔNG?

VIỆT NAM CÓ BẮT CHƯỚC ĐƯỢC CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN KINH TẾ NHƯ HÀN QUỐC ĐƯỢC HAY KHÔNG?

VIỆT NAM CÓ BẮT CHƯỚC ĐƯỢC CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN KINH TẾ NHƯ HÀN QUỐC ĐƯỢC HAY KHÔNG?

Đây là câu chuyện nhiều người nêu ra, và nhiều giới chức điều hành kinh tế VN nhiều đời lãnh đạo hay học tập, kể cả các chuyên gia, các nhà hoạch định chính sách kinh tế VN cũng hay định hướng chiến lược phát triển kinh tế cho VN theo mô hình Hàn Quốc.

Câu trả lời của tôi là gáo nước lạnh dội vào những ý tưởng hoang đường khi VN đòi học tập chiến lược phát triển của Hàn Quốc. Kể cả trước đây trong khi ông Phan Trung Lý - Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật cho biết ở Hàn Quốc trước đây xảy ra khủng hoảng tài chính, người ta coi nợ xấu là vấn đề của xã hội nên đã kêu gọi người dân góp tiền giải quyết.

Đó là ý tưởng vĩ cuồng. Vì sao VN không thể học theo mô hình phát triển kinh tế của Hàn Quốc? Trước đây, Hàn Quốc áp dụng chiến lược phát triển theo các "Chaebols" Đại Hàn, nó gần như là một quốc sách cho dân chúng toàn quốc để thi hành chính sách công nghiệp hóa có định hướng và với sự yểm trợ của nhà nước. Nền tảng luật lệ của họ công khai minh bạch trong một môi trường chính trị của "văn hóa từ chức", họ có tinh thần dân tộc rất cao, nhưng cũng lâm nạn phá sản và phá sản năm 1997. Có lẽ ai cũng biết khủng hoảng tín dụng và đầu tư chéo nên ta không giải thích. VN thì nhóm lợi ích thao túng, khi giàu có họ hưởng hết thì không nói gì, khi hoạn nạn thì bắt dân góp tiền thì đó là không thể chấp nhận được.

Đối với Hàn Quốc ngày nay, với dân số 50,42 triệu dân (theo thống kê của WB). Thu nhập GDP bình quân đầu người 24.566 USD, còn tính theo thu nhập GDP bình quân đầu người PPP là 33.629 USD. Đây cũng là mức cao nhất mà Hàn Quốc đạt được trong năm 2014 (theo thống kê của Ngân hàng Thế giới WB). Với mức thu nhập như thế này thì Hàn Quốc đã một quốc gia vượt qua "bẫy thu nhập trung bình" (middle-income trap), thoát khỏi đống đổ nát từ kể từ sau hoảng kinh tế năm 1997.

Về kích thước nền kinh tế Hàn Quốc với tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của xứ Kim Chi này là 1.410,38 tỷ USD (chiếm 2,27% sản lượng GDP của nền kinh tế thế giới). Một con số làm mờ mắt bất cứ quốc gia nào kém phát triển phải mơ ước.

Nền kinh tế Hàn Quốc đeo đuổi chiến lược xuất khẩu có định hướng. Thúc đẩy bởi xuất khẩu, chiếm một nửa của sản lượng GDP củaHàn Quốc. Hiện nay, Hàn Quốc là nước sản xuất hàng đầu thế giới thiết bị giải trí như màn hình ti vi, điện thoại, chất bán dẫn bộ nhớ máy tính, và các lĩnh vực điện tử tin học khác. Hàn Quốc cũng là nhà sản xuất đóng tàu lớn thứ hai. Hiện nay, giống như Nhật, vì sự phụ thuộc cao vào xuất khẩu, và mức tiêu dùng nội địa trong nước yếu đi do dân số lão hóa. Đây mối đe dọa chính đối với sự phát triển trong tương lai vì chi tiêu cho tiêu dùng trong nước yếu, khi xuất khẩu các mặt hàng chủ lực của Hàn Quốc như điện thoại, ti vi,... bị cạnh tranh ngày càng gay gắt.

Thực tế, vì sao VN không thể bắt chước được Hàn Quốc. Công thức đơn giản, đó là chiến lược phát kinh tế của Hàn Quốc được hưởng "nợ ít, lãi suất thấp vừa phải". Thí dụ mức nợ chính phủ so với GDP của Hàn Quốc trong năm 2014 là 35,98%, cũng là mức cao nhất mọi thời gian hiện nay. Nếu tính trung bình từ năm 1990 đến năm 2014, theo WB thì mức nợ chính phủ so với GDP của xứ Kim Chi này ở mức 20,97%, một mức nợ thấp để tiếp cận được vốn vay ngoại quốc và trong nước với lãi suất thấp để giảm phí tổn nên doanh nghiệp dễ tích lũy vốn để trở thành các tập đoàn công ty lớn của thế giới.

Cụ thể ta thấy, theo báo cáo Ủy ban Chính sách Tiền tệ (BOK) của Hàn Quốc thì lãi suất chỉ đạo tính trung bình từ năm 1999 đến năm 2015 là ở mức khá lý tưởng là 2,27%, hiện nay ở mức 1,50%. Trong khi lãi suất cho vay của ngân hàng thương mại, nó bao gồm tỷ lệ trung bình của lãi được tính vào các khoản vay của các ngân hàng thương mại cho các cá nhân, các hộ gia đình và các công ty tư nhân vay chỉ ở mức 3,42%. Mức trung bình từ năm 1996-2015 là 7,16% thực tế nếu tính từ năm 2000 - 2015 nó chỉ ở mức 4,26%, là mức vay khá lý tưởng để các doanh nghiệp dễ tiếp cận nguồn lúc vốn để phát triển kinh tế và giảm chi phí vay mượn.

Hàn Quốc không có mức tăng trưởng GDP cao như VN, là vì thống kê của họ khả tín đáng tin, nên chính phủ Hàn Quốc dễ "bắt mạch" cho nền kinh tế để tung ra các biện pháp kích thích kinh tế nhằm chặn đà suy giảm kinh tế, hay hạ nhiệt đầu máy tăng trưởng quá nóng. Chẳng hạn, tỷ lệ tăng trưởng GDP của Hàn Quốc trong quý thứ 3 của năm 2015 là 1,3%, chỉ mức cao 6,80% trong quý đầu tiên của năm 1988 khi Hàn Quốc khôi phục đống đổ nát từ khủng hoảng tài chính năm 1997 đã xóa sạch 65% thu nhập của người dân vì giá tài sản giảm. Mức tăng trưởng GDP trung bình của Hàn Quốc nhiều năm chỉ chưa tới 1,75%. Nếu tính thời gian dài và sâu hơn từ năm 1970 - 2015 thì tỷ lệ này chỉ đạt 1,68% (nguồn thống kê của Ngân hàng Trung ương Hàn Quốc và WB),...nhưng tốc độ tăng GDP hàng năm của Hàn Quốc là khá ổn, từ năm 1971 - 2015 thì đạt mức trung bình là 6,97%.

Thực tế, giống như Mỹ, Nhật hay các nước EU ở các nước phát triển nhất, lĩnh vực dịch vụ chiếm tỷ lệ cao nhất đến 57,5% của GDP.

Quan trọng là trong chiến lược phát triển kinh tế, Hàn Quốc đi vay mượn bằng phát hành trái phiếu có chủ quyền (trái phiếu phát hành bằng ngoại tệ) để phát triển vốn "có chủ quyền" mà không dựa vào IMF, WB, ADB (trừ lần vay mượn IMF khi bị khủng hoảng năm 1997) thì các trái phiếu bằng ngoại tệ để huy động tư bản tài chính của Hàn Quốc vay là rất thấp, chỉ ở mức 2,18% nhiều năm nay. Nó chỉ có mức cao nhất 7,90% vào tháng 04/2001, khi Mỹ gặp khủng hoảng bong bóng tin học bị vỡ.

Hiện nay các khoản nợ nước ngoài của Hàn Quốc hết quý thứ 3 của năm 2015 lên đến 409 tỷ USD, nhưng dự trữ ngoại hối lại lên đến 369 tỷ USD ngang bằng số nợ. Nhưng đó không là vấn đề, vì số tài sản dân chúng và các công ty Hàn Quốc là rất lớn.

Ngoài ra Hàn Quốc có chiến lược gọi vốn rất hiệu quả và tinh vi, chẳng hạn thị trường chứng khoán, được biết qua chỉ số KOSPI, là một chỉ số thị trường chứng khoán lớn chuyên theo dõi hiệu suất của các công ty lớn chủ lực của Hàn Quốc, với cổ phần tài sản sở hữu của dân chúng chiếm khá lớn, nên ít có hiện tượng đầu cơ.

Đối với tiền tệ là đồng Won, có lẽ viết đúng hơn South Korean Won (KRW) để phân biệt đồng North Korean Won (KPW) của Bắc Hàn. Đồng KRW của Hàn Quốc có đồ thị tiền tệ rất mạnh mẽ, thậm chí có thể được xét vào giỏ tiền Quyền rút vốn đặc biệt (SDRs) của IMF, mặc dù trong quá khứ đồng KRW của Nam Hàn bị trượt giá nặng nề vào tháng 12/1997 do tài sản giảm giá khiến phải đến 1.962,50 KRW mới đổi ra được 1 USD, từ mức tăng giá kỷ lục 667,20 KRW vào tháng 07/1989. Hiện nay nếu tính từ đầu năm 2014 đến gần hết năm 2015 thì đồng KRW giảm giá đến 6,67% so với đồng USD, và cũng giảm theo nền kinh tế "hơi bị suy yếu".

Qua đó chỉ cần so sách vài yếu tố phân tích sơ đẳng này thôi mà không cần phải vào tận Hàn Quốc hay vào Việt Nam để lục hồ sơ thống kê hàng triệu trang tài liệu ghi chép, hay đi xem nhà máy, hay các tòa nhà cao ốc,...thì ta sẽ đoán ra là hai nền kinh tế Hàn Quốc và VN khác nhau rất lớn về chiến lược phát triển kinh tế. Có lẽ VN phải mất cả nữa thế kỷ mới bằng Hàn Quốc được, mặc dù quốc gia này ngày xưa rất nghèo và kém xa nền kinh tế phía Nam của VN của chính quyền Sài Gòn năm xưa.

Nhiều người đổ lỗi do Mỹ cấm vận VN, thực tế đó là chuyện chính trị và tôi không biết. Có lẽ VN sẽ khá hơn, khi biết tận dụng cơ hội TQ thoái trào, các công ty Mỹ nhổ trại dời nhà máy sang VN như Mỹ đã làm với Hàn Quốc trước đây, và Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) được thi hành. Vì dù sao hiện nay Mỹ vẫn là thị trường xuất khẩu nhiều nhất của VN, cũng như lượng tiền "kiều hối" nhiều nhất chảy vào VN với chi phí tư bản rẻ.

Nhìn đồ thị tiền tệ của đồng KRW theo tỷ giá đồng USD cho thấy, biểu đồ tiền tệ của đồng KRW rất mạnh mẽ và hiên nay chốt ở mức 1 USD = 1176,14 KRW, tỷ giá USD / KRW thực tế là 1 USD đổi ra được 1.172,46 KRW (xem hình). Đồng bạc VND thì yếu, lãi suất vay trong nước và bên ngoài với chi phí đắt thì làm sao mà doanh nghiệp VN có lời để dành tiền mở rộng quy mô vốn đầu tư được.

Phương Thơ, Morgan Stanley (NYSE: MS)

29 thg 12, 2015

TỶ GIÁ CỐ ĐỊNH CỦA ĐỒNG BẠC VND CỦA VIỆT NAM VÀ CÁC QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI

TỶ GIÁ CỐ ĐỊNH CỦA ĐỒNG BẠC VND CỦA VIỆT NAM VÀ CÁC QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI

Trên thế giới, có khá nhiều nước chốt đồng bạc của họ theo tỷ giá cố định vào đồng USD, hay đồng EUR. Tất nhiên, đồng nội tệ VND của VN nằm trong số đó.
Trước hết ta định nghĩa về tỷ giá cố định, đó là khi một quốc gia chốt đồng bạc của họ vào một đồng tiền có sự chi phối lớn trên thế giới, thí dụ như đồng USD của Mỹ chẳng hạn. Điều đó có nghĩa là quốc gia này có ý định giữ giá trị đồng bạc của họ theo tỷ giá hối đoái với đồng USD. Tức là ngân hàng trung ương của quốc gia đó có ý định kiểm soát chặt chẽ giá trị đồng bạc của họ để nó tăng lên hay giảm theo đồng khi đồng ở mức độ vừa phải. Bởi vì, giá trị của đồng USD được thả nổi tự do cho thị trường quyết định và đồng USD hay vài đồng bạc khác luôn biến động hàng ngày là bởi vì đồng USD Mỹ hay nhiều đồng bạc các quốc gia khác có một tỷ giá hối đoái thả nổi.
Nói chung, để giữ được tỷ giá cố định ổn định của đồng bạc neo giá vào đồng USD thì quốc gia đó phải có dự trữ ngoại tệ bằng đồng USD đủ lớn, kể cả hình thức mua trái phiếu kho bạc Mỹ chẳng hạn. Còn với những quốc gia có dự trữ ngoại tệ mỏng và ít, khi neo tỷ giá đồng bạc của họ vào đồng USD thì đồng bạc đó sẽ hay bị trượt giá theo thời gian của nó. Thí dụ như đồng bạc VND của VN chẳng hạn, nên ta chẳng cần phải lý luận nhiều khi nghe chuyên gia tài chính VN nói đồng bạc VND sẽ ổn định như thế này thế kia và có giá trị bằng ấy đồng USD, mà ta chỉ cần phân tích vào dự trữ ngoại hối của nước đó nhiều hay ít, có đủ tiền ngoại tệ để tài trợ cho mấy tuần hay mấy tháng nhập khẩu? Mức trung bình là 6 tháng, còn dưới 3 tháng là có rủi ro, và xét thêm yếu tố nợ nần nước ngoài bằng ngoại tệ nữa, nếu nợ càng nhiều thì áp lực tỷ giá càng lớn,...
Các nước có tỷ giá cố định như Saudi Arabia giữ tỷ giá của họ là 1 USD = 3.75 Saudi Riyal; Venezuela giữ tỷ giá của họ theo đồng Venezuelan Bolívar là 1 USD = 6,3 VEF; Hong Kong là 1 USD = 7,75 Dollar Hong Kong; Ai Cập giữ tỷ giá 1 USD = 7.83 Egyptian Pound (EGP); Bahamas giữ tỷ giá là 1 USD = 0,99 Bahamian Dollar (BSD); Brunei chốt tỷ giá theo đồng Dollar Singapore là 1 Dollar Brunei (BND) đổi 1 Dollar Singapore (SGD) và cứ thế tính ra 1 USD = 1,41 SGD.
Các nước Âu châu chốt đồng bạc của họ theo tỷ giá cố định vào đồng EUR như Đan Mạch thì 1 EUR = 7,46 Danish Krone (DKK), trước ấy là 1 EUR = 7,45 DKK; Bulgaria neo tỷ giá đồng Bulgarian Lev có ký hiệu là BGN thì 1 EUR = 1,955 BGN,...Đặc biệt đối với Thụy Sĩ, ngày 15/09/2015, Ngân hàng trung ương Thụy Sĩ (SNB) đã chính thức từ bỏ tỷ giá tối thiểu là 1,20 Franc Thụy Sĩ (CHF), đổi ra 1 EUR, và hạ lãi suất đồng Franc Thụy Sĩ âm -0,75, nhiều người hay lầm lẫn mà áp dụng cả lãi suất đồng bạc khác. Thí dụ tại VN, chuyên gia hay lầm lẫn hoặc thiếu kinh nghiệm khi tuyên truyền ngớ ngẩn gây cười cho giới đầu tư, bởi vì đồng CHF tăng giá quá mạnh so với đồng USD, trong khi đồng EUR lại giảm giá quá sâu so với đồng USD, nên Thụy Sĩ tung ra cái nghiệp vụ đầu tư dễ hiểu này nhưng rất phức tạp cho những người thiếu kinh nghiệm về đầu tư tài chính mà hiểu lầm tuyên truyền sai.
Đối với những quốc gia neo tỷ giá cố định, kèm cụm từ "nới biên độ +/-2%", nó bao gồm Trung Quốc, Singapore, và Việt Nam. Nhất là đồng bạc Chinese Yuan Renminbi (RMB, CNY) của TQ, và đồng bạc VND của VN.
Với TQ, họ neo vào tỷ giá đồng USD theo biên độ "có kiểm soát". Điều đó có nghĩa là Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBOC) họ giữ giá trị đồng RMB trong một biên độ giao dịch 2% theo "tỷ giá tham chiếu" (reference rate). Thực chất PBOC cho phép đồng RMB tăng hay giảm không quá 2% trên giá trị thiết lập của một rổ tiền tệ chủ yếu là rổ tiền của đòng USD qua chỉ số USDX gồm các đồng bạc EUR, JPY, GBP, CAD, CHF và SEK. Với VN cũng làm tương tự.
Nói chung, đối với những quốc gia chỉ sản xuất và xuất khẩu và phụ thuộc vào lĩnh vực buôn bán giao dịch bằng đồng USD, thí dụ như dầu thô, hầu hết các hợp đồng bán dầu là được tính bằng đồng USD thì họ chốt chặt tỷ giá đồng bạc của họ vào đồng USD để giảm thiểu rủi ro cũng như giảm phí tổn hoán đổi tỷ giá. Thí dụ Saudi Arabia là nước phụ thuộc vào hầu như là dầu thô, nên họ chốt chặt đồng Riyal Saudi vào đồng USD theo tỷ giá 1 USD = 3,75 Riyal Saudi, mà không ảnh hưởng việc đồng bạc của họ đắt hay rẻ để xuất khẩu các mặt hàng khác như dệt may, điện tử,...
Về hồ sơ việc đồng bạc VND neo tỷ giá cố định dãn biên độ. Thực chất, nó chỉ áp dụng với những nước thu nhập thấp, đồng bạc yếu và phụ thuộc vào thị trường xuất khẩu ngoại thương. Việc giữ tỷ giá cố định kiểu này không hẳn là xấu, thực tế nó có lợi rất nhiều về mọi mặt và hạn chế được nhiều rủi ro đối với các doanh nghiệp và các nhà đầu tư nước ngoài khi đầu tư vào VN, nó gợi ý rằng: "chúng tôi cam kết giữ một tỷ giá hối đoái cố định ở biên độ +/- bao nhiêu phần trăm nhằm bảo đảm sự cam kết về sự ổn định đồng nội tệ theo tỷ giá như USD / VND chẳng hạn ở mức đó,...".
Điều đó sẽ hấp cho các doanh nghiệp các nhà đầu tư nước ngoài họ đầu tư trực tiếp nước ngoài vào nước đó qua hình thức lập nhà máy sản xuất. Neo tỷ giá cố định như vậy, nó cũng gợi ý là các nhà đầu tư nước ngoài không cần lo lắng phải tự bảo hiểm rủi ro rủi ro tiền tệ của họ. Nếu không giữ được tỷ giá mà đòi thả nổi tỷ giá khi dự trữ ngoại tệ mỏng thì lập tức đồng bạc sẽ bị trượt giá làm tăng chi phí nhập khẩu, và "nhập khẩu luôn cả lạm phát bên ngoài" thì làm sao đỡ đòn nổi sự tháo chạy của các nhà đầu tư.
Tất nhiên để giữ được tỷ giá cố định mà kèm cụm từ "ổn định" thì không dễ dàng chút nào. Vì sao vậy? Chẳng lẽ ngân hàng trung ương nước đó lại nói rằng: "chúng tôi cam kết giữ tỷ giá ổn định từ đây cho đến nột thời gian nào đó theo một biên độ đã đề ra,...mọi người cứ an tâm tồn trữ đồng bạc của chúng tôi,...".
Thật không may, để duy trì một tỷ giá hối đoái cố định là rất tốn kém. Tức là quốc gia đó phải có đủ dự trữ ngoại hối để quản lý giá trị tiền tệ của họ, và hay bị giám sát chặt chẽ của giới đầu tư về khối dự trữ ngoại tệ. Đó là trường hợp của TQ và VN. Ta thấy, bất cứ khi nào dự trữ ngoại tệ của những nước này giảm đi thì cơn hoảng loạn của giới đầu tư và đầu cơ rất mạnh.
Chẳng hạn đối với trường hợp kinh điển của VN, vì sao đồng bạc VND "không có lời hứa" và luôn bị ngay chính người dân nước này hắt hủi. Đó là khối dự trữ ngoại hối nó cũng dùng để kiểm soát tỷ giá đồng bạc quá mỏng và rất ít sụt giảm khi Ngân hàng Nhà nước (NHNN) bán ra đồng USD mua vào đồng nội tệ VND để chặn đà sụt giá đồng nội tệ nhưng họ vẫn nói là dự trữ ngoại tệ của họ vẫn như cũ, nó chả đánh lừa được giới đầu tư giàu kinh nghiệm.
Chẳng hạn, ở VN khi NHNN công bố dự trữ ngoại hối là 35 tỷ USD trong năm 2014, và đạt mức cao kỷ lục, rồi một thông điệp lạc quan về điều hành tỷ giá đã được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Bình gửi đến thị trường, ông Thống đốc công bố về tỷ lệ dự trữ vàng đạt 10 tấn và xác nhận dự trữ ngoại hối đến tháng 7 đạt 37 tỷ USD, và cam kết với thị trường rằng đó là số dự trữ bằng ngoại tệ, "tiền tươi thóc thật", và chỉ cần "bấm nút" một cái là có ngay 37 tỷ USD,...
Phát biểu đấy là chuyện của phía VN, và VN có nói là đã có trong tay 100 tỷ USD và đồng nội tệ VND sẽ có thể làm tăng giá hơn 20% bất cứ lúc nào, mọi người cứ tích trữ đồng nội tệ VND làm giao hoán bán buôn đi.
Thật không may, đối với VN, hiên tượng đồng nội tệ VND hay bị trượt giá là lý do giới đầu tư đánh giá dự trữ ngoại tệ của VN thật ra không còn nguyên vẹn và thấp hơn thực tế. Lý do, công thức đơn giản, trong nhiều tháng hoặc cả năm, mức dự trữ ngoại hối của VN khi công bố ra nó đều giữ yên không thay đổi. Chắc chắn nếu dự trữ ngoại hối tăng thì tất nhiên người ta công bố nhanh từng ngày từng tháng, nhưng sụt giảm thì im lặng đáng ngờ cộng thêm sự cam kết không chắc chắn, và người ta hay dùng thủ thuật tăng lãi suất để bảo vệ đồng nội tệ. Thủ thuật tăng lãi suất thì gây khó khăn cho doanh nghiệp khó tiếp cận vốn vay, còn bung ngoại tệ ra thì không đủ tiền dự trữ và trả nợ, hoặc họ đem đầu tư lấy lời mà không kịp đổi ra thanh khoản tiền mặt.
Trường hợp trượt giá kinh điển của đồng nội tệ VND của VN, đó là trong tháng 08/2015, khi liên tiếp trong ba hôm từ ngày 11, 12 và 13/8/2015, Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBOC) phá giá đồng bạc Chinese Yuan Renminbi (RMB, CNY) tới 4,6%, Ngân hàng Nhà nước VN cũng phản ứng nhanh, liên tục nới và nới rộng biên độ tỷ giá xê dịch +/-1% lên +/-2%,... Thực tế, về lý thuyết việc nới rộng biên độ +/-1% lên +/-2%,...thật ra chưa thật sự là phá giá đồng bạc VND mà người ta hay lầm lẫn là phá giá, và nó có thể trở lại biên độ cũ khi cần thiết. Tuy nhiên, lúc ấy vào ngày 10/08/2015 thì 1 USD đổi ra được 21.828 VND, thì đến ngày 13/08 nó tăng lên 22.092 VND và đến ngày 25/08/2015 nó trượt đến 22.547 VND, và cứ thế trượt giá và không quay lại cái "bản lề của biên độ +/-2%,..." kia nữa thì ta xem như nó chính thức mất giá.
Điều không may, là người ta cố tình quên nó đi, hoặc nhân có hội TQ phá giá thì mình "phá" luôn cho đỡ mất mặt vì đã hứa giữ tỷ giá ổn định ngần ấy phần trăm mà chưa tính rủi ro khi đồng USD cứ tăng giá qua nhanh mà nhập siêu của VN thì cứ tăng, ngân sách thì thâm hụt nên đỡ không nổi và phá giá cũng chả ai bắt bẻ mà có cớ đổi thừa TQ. Mặc dù TQ đã lật đật tung ra cả trăm tỷ USD mua vào đồng RMB để đỡ lại tỷ giá do giới đầu tư bán tháo các tài sản niêm yết bằng đồng RMB, còn VN thì chả có động tĩnh gì.
Điều này khiến giới đầu có kinh nghiệm nhận ra khi nới biên độ ra rồi thì đồng bạc VND nếu không quay trở lại "cái biên cũ đã vạch sẵn" thì ta xem như đồng bạc VND chính thức phá giá. Và lần sau hễ thị trường cứ nghe VN nới biên độ +/- bao nhiêu phần trăm thì họ đoán đồng bạc VND sẽ bị phá giá bấy nhiêu phần trăm, dù có giải thích thế nào cũng vậy và họ bỏ ngoài tai.
Đối với VN, năm 2016, có lẽ một năm cũng lắm cơ hội và cũng nhiều rủi ro, mà rủi ro sẽ đến từ TQ, vì hiện nay, dự trữ ngoại tệ của TQ để hỗ trợ đồng RMB, được neo vào một rổ ngoại tệ bao gồm cả đồng USD đã giảm xuống còn 3.430 tỷ USD (giảm 87 tỷ USD kể từ tháng 11/2015). Đây là mức thấp nhất trong gần ba năm qua. Mức dự trữ ngoại tệ cao nhất của TQ là 3.995 tỷ USD vào tháng 06/2014.
Xuất khẩu của TQ đã sút giảm liên tục khi họ sản xuất và tăng đầu tư 10 đơn vị thì chỉ bán ra được 6 đơn vị, và tồn kho đến 4 đơn vị, trong khi sức mua tiêu dùng trong nước lại không đủ lực nâng đỡ cho thị trường nội địa, điều này khiến giới phân tích kinh tế lo ngại trong năm 2016 khi TQ vào trong giỏ tiền Quyền rút vốn đặc biệt (SDRs) vào tháng 10/2016 thì họ sẽ khơi mào một trận chiến ngoại tệ trước tháng 10/2016 để thả giá đồng RMB xuống thấp nhằm hỗ trợ cho xuất khẩu thay vì nâng giá đồng RMB hướng vào thị trường nội địa.
Quan trọng nhất là trong tháng 07/2015, khi Ủy ban Quản lý Chứng khoán Trung Quốc (CSRC) được chính quyền Bắc Kinh chỉ thị đã áp dụng nhiều biện pháp quyết liệt để ngăn không cho thị trường tuột dốc trước đây kể từ sau ngày 20/06/2015 khi TTCK TQ bị xì bóng, trong đó có việc tạm ngưng việc mua bán cổ phiếu của nhiều công ty, dùng ngân hàng trung ương để hỗ trợ cho việc mua cổ phiếu và bắt buộc những người có 5% cổ phiếu của một công ty không được bán cổ phiếu trong vòng 6 tháng. Thật không may, biện pháp hành chính lẫn hình sự này sẽ hết hạn trong đầu năm 2016 này, các nhà đầu tư sẽ kéo tiền ra và trả lại cho các ngân hàng cho vay trước đây, việc này sẽ dẫn đến đồng RMB giảm giá thì đồng nội tệ VND của VN sao mà đỡ đòn nổi, cộng thêm nếu như Fed tăng lãi suất ở mức 0,75% thì thật đáng ngại.
TỶ GIÁ CỐ ĐỊNH CỦA ĐỒNG BẠC VND CỦA VIỆT NAM VÀ CÁC QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI
(*) Xem hình, trong ba hôm từ ngày 11, 12 và 13/8/2015, Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBOC) phá giá đồng bạc Chinese Yuan Renminbi (RMB, CNY) tới 4,6%. Cụ thể, ta thấy từ ngày 10/08/2015 thì 1 USD đổi được 6,2097 CNY, đến ngày 13/08/2015 thì 1 USD đổi ra 6,3982 CNY, đến ngày 04/09/2015, thì RMB giảm xuống còn 6,3235 CNY đổi được 1 USD khi TQ tung ra mấy chục tỷ USD mua vào đồng CNY. Tuy nhiên đến ngày 29/12/2015, đồng CNY đã liên tục giảm giá khi giảm đến 6,4849 CNY thì đổi ra 1 USD. Rõ ràng TQ sẽ còn hạ thấp giá trị đồng CNY nữa và sẽ gây áp lực lên đồng nội tệ VND của VN.

Phương Thơ, Morgan Stanley (NYSE: MS)

VN là một "Thụy Sĩ ở Đông Nam Á"

VN là một "Thụy Sĩ ở Đông Nam Á". Ở đây ta giải thích là Thụy Sĩ và các nước khu vực đồng EUR họ chỉ hạ lãi suất âm bằng đồng nội tệ của họ nên đừng hiểu lầm là họ lãi suất âm các đồng bạc khác.
Khi NHNN VN hạ lãi suất âm bằng đồng USD và tăng lãi suất bằng đồng nội tệ nó cho thấy sự suy yếu đồng nội tệ VND. Một nền kinh tế lành mạnh thì lãi suất bằng đồng nội tệ phải thấp để giảm chi phí vay mượn của doanh nghiệp trong nước, và tiêu dùng nội địa.
Trong năm 2016 giới phân tích tài chính dự đoán sẽ có những đợt phá giá của đồng CNY của TQ. Vì hiện nay TQ sản xuất ra 10 đơn vị thì họ chỉ bán ra được 6 hay 7 đơn vị, còn 4 đơn vị kia tồn kho ế ẩm họ sẽ xả hàng ra bằng cách hạ thấp giá trị đồng bạc của họ, thực chất là với dự trữ ngoại tệ của TQ giảm đi thì rất khó mà nói họ giữ được tỷ giá nữa.
Thêm vào đấy là kỳ hạn 6 tháng mà chính quyền Bắc Kinh áp đặt luật lệ trên TTCK của họ vào cuối tháng 6 đầu tháng 07/2015 khi TTCK Thượng Hải và Thẩm Quyến bị xì bóng sau ngày 20/06/15, và sẽ hết kỳ hạn trong đầu năm 2016 này. Đó mới là mối nguy gây áp lực cho VN nhiều mặt. Vì đó mà hôm qua giá dầu thô sụt giảm đến 3% vì bi quan nền kinh tế TQ giảm tốc. Thị trường cổ phiếu TQ hôm qua sụt giá nặng nề.
Phương Thơ, Morgan Stanley (NYSE: MS)
_______

//Bài viết trên đây bình luận cho bài: http://tuoitre.vn/tin/comment/1028617.html

28 thg 12, 2015

NHIỀU ĐỘC GIẢ HỎI LÃI SUẤT ÂM CỦA THỤY SĨ VÀ ÂU CHÂU CŨNG NHƯ TẠI VN MỚI ĐÂY KHI NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VN CÓ THỂ HẠ LÃI SUẤT ÂM KÝ THÁC BẰNG ĐỒNG USD.

NHIỀU ĐỘC GIẢ HỎI LÃI SUẤT ÂM CỦA THỤY SĨ VÀ ÂU CHÂU CŨNG NHƯ TẠI VN MỚI ĐÂY KHI NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VN CÓ THỂ HẠ LÃI SUẤT ÂM KÝ THÁC BẰNG ĐỒNG USD.

NHIỀU ĐỘC GIẢ HỎI LÃI SUẤT ÂM CỦA THỤY SĨ VÀ ÂU CHÂU CŨNG NHƯ TẠI VN MỚI ĐÂY KHI NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VN CÓ THỂ HẠ LÃI SUẤT ÂM KÝ THÁC BẰNG ĐỒNG USD.

Ở đât tôi trả lời, và cũng đã phân tích nhiều lần rồi. Tôi phân tích lại, đầu tiên đối với VN họ làm gì quyết định gì đó là chuyện nội bộ của VN, và tôi cũng chả có thẩm quyền gì để tư vấn cho ai cả. Bởi lẽ nếu ai đã tích trữ và tự kiếm ra tài sản lớn thì tự hiểu phải làm gì để bảo vệ tài sản của mình sao cho có lợi nhất, nên không cần phải ai giải thích cả.
Lý do, tại VN, người ta hay chơi chữ "Kiểu nói một đằng nhưng lại làm một nẻo không phải là điều gây tác động tích cực lên thị trường" (Style says one thing but doing another is not something positive impact on the market), nên chả ai tin họ, dù họ có nói thật đi chăng nữa.
Tuy nhiên, về khí cụ đầu tư lãi suất âm của Thụy Sĩ, thì tôi giải thích ngắn gọn như sau: Ta nên nhớ ngày 15/09/2015, Ngân hàng trung ương Thụy Sĩ (SNB) đã chính thức từ bỏ tỷ giá tối thiểu là 1,20 Franc Thụy Sĩ (CHF), đổi ra 1 EUR, vì đồng EUR giảm giá quá sâu đã tác động vào đồng Franc Thụy Sĩ (CHF) tăng giá quá cao, và đồng EUR cũng làm giảm giá trị so với đồng USD.
Kể từ giai đoạn năm 2002 - 2007. Đồng USD của Mỹ giảm mạnh đến 40% so với đồng EUR, đó là do các khoản nợ chính phủ theo phần trăm GDP của Mỹ tăng lên 60%. Tuy nhiên, tính trong năm 2002, thì 1 EUR chỉ có giá trị là 0,87 USD, nhưng đến năm 2007 thì 1 EUR có giá trị 1,44 USD.
Hiện nay 1 EUR = 1,10 USD, và 1 EUR tương ứng 1,08 CHF. Kể từ tháng 08/2011, thì 1 USD chỉ đổi được 0,77 CHF. Tuy nhiên, trong quá khứ trong năm 2001 thì 1 USD có giá trị 1,63 CHF, bây giờ thì ngược lại 1 USD chỉ có giá trị bằng 0,99 CHF cũng không thay đổi nhiều so với tháng 09/2015, mặc dù đồng USD hiện nay đã tăng giá tương đối so với đồng EUR, CHF. Từ kết quả trên ta thấy rõ ràng đồng CHF của Thụy Sĩ đã tự tăng giá qua cao so với kích thước quy mô nền kinh tế của Thụy Sĩ, khi mà đồng EUR đã giảm đi giá trị của nó, thực chất là đồng EUR vẫn còn định giá cao so với đồng USD so với kích thước kinh tế và nhiều tài sản đầu tư khác thì đồng EUR quá rủi ro và yếu kém về nhiều mặt so với đồng USD của Mỹ, như sản lượng trái phiếu kho bạc của ECB phát hành kém Mỹ đến 2 cấp, cũng như mức nợ hộ gia đình trên thu nhập, và nợ hộ gia đình trên GDP của khu vực đồng EUR là quá cao.
Đối với Thụy Sĩ có số dân 8,2 triệu người (Theo Eurostat thống kê năm 2014), tính đến cuối tháng 12/2014, Thụy Sĩ lại sở hữu khối dự trữ lên đến 545,4 tỷ USD, chỉ xếp sau TQ, Nhật Bản, Saudi Arabia, và đứng trước cả Nga. Hiện nay dự trữ ngoại hối của Thụy Sĩ có lẽ ghi bằng đồng Franc Thụy Sĩ (CHF) thì lên đến máp mé 596 tỷ CHF.
Nói chung, về nghiệp vụ đầu tư, ta thấy khi khối kinh tế các nước khu vực đồng Euro bị lâm nạn khủng hoảng nợ nần năm 2010 làm đồng EUR giảm giảm giá so với đồng USD, CHF, đó là bởi vì giới đầu tư bán tháo các tài sản niêm yết bằng đồng EUR, kể cả hình thức bán tháo trái phiếu do ECB phát hành bị đánh giá ở cấp BB+ để mua đồng Franc Thụy Sĩ (CHF), hoặc hình thức trái phiếu được đánh giá ở cấp AAA, có giá trị ít rủi ro hơn nhiều do các tài sản do ECB phát hành, điều này khiến đồng CHF lên giá quá mạnh một cách thô bạo.
Nói chung, trong kinh tế, việc đồng tiền lên giá là điều mà bất cứ nền kinh tế nào cũng mong ước, nhất là những nước nợ nần nhiều, nhưng với Thụy Sĩ một quốc gia nhỏ bé sống nhờ xuất khẩu, và "xuất khẩu dịch vụ tài chính" như Thụy Sĩ bị thiệt hại nặng. Vì các nước trong khu vực đồng EUR tiếp tục bị khủng hoảng khó khăn về kinh tế thì đồng CHF Thụy Sĩ lại càng là nơi trú ẩn an toàn của giới đầu tư, điều này khiến Thụy Sĩ phải tốn rất nhiều chi phí để giữ giá đồng CHF dưới mức trần quy định trước đó. Việc này khiến Thụy Sĩ buộc phải quyết định khó hiểu đó thực tế là một cách bứt neo để thả nổi đồng CHF và không còn neo giá vào đồng EUR nữa, vì rất tốn kém chi phí mà còn gây cản trở sản xuất và xuất khẩu của Thụy Sĩ.
Bây giờ nếu nhà đầu tư nào mà nếu cho Thụy Sĩ vay để kiếm lời thì không còn được nhận số tiền nguyên vẹn nữa mà cứ trừ đi lãi âm đó mà tính ra, tức là còn phải trả chi phí để Thụy Sĩ giữ tiền hộ. Thực chất đó là chỉ về lý thuyết, nhưng nếu các trương chủ ký thác tiền gửi bằng đồng USD vẫn nhận lãi dương. Bởi Thụy Sĩ là thiên đường ngân hàng nhận tiền ký thác và cho vay kiếm lời ở giũa, quốc gia giàu có trung lập tại Âu châu này có đến 338 ngân hàng các loại thì có 148 là của nước ngoài (theo thống kê của Morgan Stanley), trong đó có tên tuổi nổi danh Crédit Suisse, UBS,...
Thực tế, triong quá khứ, lãi suất huy động ở Thụy Sĩ từng đạt mức cao 3,50% vào tháng 06/2000. Nói chung lãi suất này được quyết định và thi hành thực hiện bởi Ngân hàng quốc gia Thụy Sĩ, tức SNB. Lãi suất chính thức là ba tháng niêm yết bằng đồng Franc Thụy Sĩ (CHF), neo vào lãi suất liên ngân hàng LIBOR.
Về tỷ giá liên ngân hàng tại Thụy Sĩ giảm đến -0,77% vào ngày 25/12/2015, tỷ giá liên ngân của Thụy Sĩ là tỷ lệ lãi được tính vào các khoản vay ngắn hạn được thực hiện giữa các ngân hàng trong kỳ hạn ngắn 3 tháng. Lãi suất cho vay thì tùy, nhưng tất nhiên là phải dương.
Bởi vì trong khu vực đồng Euro, lãi suất cho vay của ngân hàng là tỷ lệ trung bình của lãi được tính vào các khoản vay của các ngân hàng thương mại cho các cá nhân và các công ty tư nhân, hộ gia đình vay, nó được quyết bởi từng nước thành viên, tức những ngân hàng trung ương của mỗi nước, nói trung tính trung bình cộng gộp lại của khối kinh tế khu vực đồng khu vực đồng Euro là 2,76%. Thí dụ như Đức cho vay được quyết định bởi Deutsche Bundesbank ấn định mức vay là 2,64%, Pháp là 1,82%, Luxembourg là 1,53%,...
Trong khu vực đồng Euro, lãi suất trên cơ sở huy động, hay tỷ lệ lãi suất chuẩn được thiết lập bởi Hội đồng quản trị của các thành viên trong Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB). Hiên nay lãi suất trên cơ sở huy động sẽ được giảm 10 điểm cơ bản xuống mức âm -0.30%, và đã áp dụng từ ngày 09/122015. Thực tế, lãi suất tái cấp vốn này sẽ vẫn không đổi ở mức tương ứng lần lượt là 0,05% và 0,30%. Tuy giảm cơ sở tiền gửi của 10 điểm cơ bán xuống còn -0,3%, đổi lại ECB mở rộng chương trình mua tài sản 60 tỷ EUR mỗi tháng cho đến ít nhất là tháng 03/2017, nhằm giúp các doanh nghiệp có được những ưu đãi mở rộng kinh doanh để tạo ra việc làm tăng thu nhập cho dân chúng thì dù lãi suất có âm thì cũng "đáng đồng tiền bát gạo" mà chẳng ai phản đối.
Nhìn đồ thị tỷ giá USD / CHF kể từ 15/09/2015, Ngân hàng trung ương Thụy Sĩ (SNB) đã chính thức từ bỏ tỷ giá tối thiểu là 1,20 Franc Thụy Sĩ (CHF), đổi ra 1 EUR, nếu tính ra tỷ giá đồng USD so với CHF Thụy Sĩ thì giới ký thác tiền gửi vẫn không hề nao lúng khi giao tiền cho Thụy Sĩ cất giữ mà không sợ mất vốn, vì vẫn có thể có lời vì đồng CHF hoàn toàn không bị giảm giá so với đồng USD. Vì thực chất trong suốt 1 năm qua đồng CHF chỉ giảm giá so với đồng USD chỉ ở mức 0,34%. Thụy Sĩ cũng chả dám liều lĩnh thả nổi mạnh đồng bạc của họ bởi lẽ phí tổn phải trả cho thân chủ ký thác quy đổi ra đồng USD sẽ khiến nhiều ngân hàng Thụy Sĩ lỗ nặng vì các khoản cho vay hay ký thác dài hạn còn đang bị kẹt.
Nói chung, đây là nghiệp vụ đầu tư có lẽ thân chủ trước khi đặt tiền cho người khác giữ hộ phải tư vấn các ngân hàng đầu tư trước để tính ra lời lỗ, tất nhiên sẽ không có Morgan Stanley (MS: NYSE) tư vấn.

Phương Thơ, Morgan Stanley (NYSE: MS)

MỘT SỐ LƯU Ý VỀ CHU TRÌNH THANH TOÁN T + 2 MỚI

Nhiều điểm mới về giao dịch chứng khoán

  • Trung tâm lưu ký chứng khoán Việt Nam (VSD) đã chính thức ban hành quy chế thanh toán bù trừ mới để áp dụng chu kỳ thanh toán T+2 từ ngày 01/01/2016. Giao dịch chứng khoán, chứng chỉ quỹ ngày đầu tiên được thanh toán theo chu kỳ mới là ngày 04/01/2016 sau tết Dương lịch.
  • Các giao dịch ngày cũ ngày 29, 30, 31/12 còn trong chu kỳ thanh toán T+3 sẽ được thanh toán vào ngày 04, 05 và 06/01/2016.
  • Như vậy riêng ngày 06/01/206 sẽ là ngày thanh toán của 2 ngày giao dịch ngày 31/12/2015 và 04/01/2016. Trong đó, thời gian thanh toán đối với các giao dịch cổ phiếu, chứng chỉ quỹ thực hiện tại ngày 31/12/2015 sẽ được thanh toán vào 8h45, các giao dịch thực hiện tại ngày 04/01/2016 sẽ được thanh toán vào lúc 16h.

Như vậy so với quy trình thanh toán T+ 3 trước sự thay đổi chính về quy trình thanh toán T+2 nằm thay đổi về số ngày mà tiền bán về tài khoản của nhà đầu tư ở các công ty chứng khoán.


  • Lưu ý là thời gian cổ phiếu về tài khoản: Giống như quy trình thanh toán T+3
  • Lãi ứng tiền tự động (lãi ứng trước): Do thời gian hạch toán tiền về tài khoản nhà đầu tư tại các công ty chứng khoán có sự khác nhau do đó điều này sẽ ảnh hưởng đến số ngày tính lãi ứng tiền tự động (lãi ứng trước) giữa các công ty chứng khoán.

Tại SSI sẽ có một số sự khác biệt về quy trình thanh toán với các công ty chứng khoán khác như sau:


Do sự khác biệt về thời gian thanh toán dẫn đến sự khác biệt về số ngày tính lãi tự động- ứng trước như sau: 


Ví dụ dưới đây chỉ ra sự khác biệt về lãi ứng trước do sự khác biệt về số ngày tính lãi ứng trước:
  • Giả sử nhà đầu tư N có 1 tỷ vốn đầu tư, sử dụng thêm 1 tỷ vốn vay của công ty chứng khoán, tổng cộng nhà đầu tư có 2 tỷ tiền đầu tư, giả định trong 1 tháng nhà đầu tư chỉ mua và bán 2 lần (2 lần mua- 2 lần bán), vậy số tiền sử dụng ứng trước 2 lần sẽ là 4 tỷ đồng.
  • Giả định lãi ứng trước tại các công ty chứng khoán hiện tại là 13%, lãi vay margin tại SSI là 13%/năm và tại các công ty chứng khoán khác là 12%.
  • Giả định các công ty chứng khoán đều tính lãi vào ngày T+2
  • Như vậy trong trường hợp nhà đầu tư N thực hiện (mua- bán) chứng khoán 2 lần (2 mua- 2 bán) trong 1 tháng, và thực hiện giao dịch vào ngày thứ 2 thì tổng chi phí lãi (lãi ứng trước và lãi margin) nếu giao dịch tại SSI sẽ tiết kiệm được số tiền là 4,944,444 VNĐ, tương tự nếu nhà đầu tư N thực hiện mua- bán tượng tự 2 lần vào ngày thứ 6 trong 1 tháng, thì tổng số lãi nhà đầu tư N tiết kiệm được khi giao dịch tại SSI sẽ là 10,722,222 VNĐ.



THÔNG TƯ 203:
Bộ Tài chính đã chính thức ban hành Thông tư số 203/2015/TT-BTC thay thế cho Thông tư 74/2011/TT-BTC ngày 1/6/2011 về hướng dẫn giao dịch trên thị trường chứng khoán (TTCK)

Một số điểm mới:
  • “Đặc biệt, nếu Thông tư 74 quy định, nhà đầu tư (NĐT) chỉ được sử dụng 1 tài khoản để thực hiện giao dịch ngược chiều cùng 1 loại chứng khoán; không được đồng thời đặt lệnh vừa mua vừa bán trong từng lần khớp lệnh, chỉ được thực hiện khi lệnh trước đã khớp, thì Thông tư mới quy định lại theo hướng cho phép các NĐT được thực hiện cùng mua cùng bán, phù hợp thông lệ quốc tế. Đồng thời, cho phép bán chứng khoán chờ về...; quy định CTCK không được thanh toán, nhận thanh toán giao dịch chứng khoán bằng tiền hoặc chuyển khoản cho bên thứ 3.
  • Link tham khảo thêm: http://thoibaotaichinhvietnam.vn/pages/chung-khoan/2015-12-27/nhieu-diem-moi-ve-giao-dich-chung-khoan-27367.aspx


=============
Nếu còn thông nào chưa rõ, Quý nhà đầu tư Liên hệ với tôi theo địa chỉ:
Dương Trọng Vinh (Mr.)
Chuyên viên

CTCP Chứng khoán Sài Gòn (SSI)
1C Ngô Quyền, Q. Hoàn Kiếm, TP. Hà Nội, Việt Nam
Di động & Zalo & Viber: 0975 271 089
Email: vinhdt@ssi.com.vn
Skype: vinhduong89

TĂNG TRƯỞNG CON SỐ GDP CAO ĐỂ LÀM GÌ?

TĂNG TRƯỞNG CON SỐ GDP CAO ĐỂ LÀM GÌ?

TĂNG TRƯỞNG CON SỐ GDP CAO ĐỂ LÀM GÌ?

Đối với việc các nước hay khai man con số thổi phồng GDP quá trớn, nó có nhiều lý do nội tại, chẳng hạn như họ hay khai man thổi phồng con số tăng trưởng GDP cao nhằm trấn an thị trường và giới đầu tư, đặt biệt là những quốc gia mắc nợ bằng ngoại tệ nhiều, họ khai man con số tăng trưởng GDP cao để nhằm gợi ý rằng họ hoàn toàn có khả năng trả nợ và dễ đi vay mà cũng trả lãi thấp. Cái này do tổ hợp ngân hàng đầu tư Goldman Sachs (GS: Dow Jones, NYSE) bày vẽ khai man cho Hy Lạp nhằm trấn an thị trường và giới đầu tư để cho Hy Lạp tiếp tục nhận được các khoản vay, và hậu quả Hy Lạp bị vỡ nợ tan tành vì sống trong con số ảo.
Công thức đơn giản, đó là giới đầu tư cho các quốc gia đó vay tiền họ chỉ thường chú ý vào khả năng tăng trưởng GDP, nếu con số báo cáo càng cao của nước đi vay thì càng dễ đánh lừa được thị trường, đơn giản nếu khai man con số GDP thấp dù tăng trưởng có phẩm chất tốt nhưng giới đầu tư lại hoang mang và hoảng loạn. Bởi lẽ nếu tăng trưởng GDP quá thấp thì lấy đâu ra tiền mà trả nợ cho họ. Nếu mà họ hốt hoảng thì họ sẽ đòi lãi suất cao hơn để giảm chi phí rủi ro mất nợ, nếu quốc gia đó tuyên bố phá sản hay xù nợ thì còn kiếm được lãi cao mà vớt vát ít vốn.
Ta đều biết, việc tăng trưởng GDP cao của một quốc gia, nó cho thấy một nền kinh tế nước đó đang phát triển tốt, ngược lại khi GDP thấp, nó cho thấy nền kinh tế của quốc gia đó đang sự suy giảm.
Tất nhiên, một mức tăng trưởng GDP cao thì thường phải được đi kèm với việc tăng lương, tỷ lệ thất nghiệp giảm xuống, doanh nghiệp tăng lợi nhuận, nhà nước thì thu được nhiều thuế và có tiền trả nợ, khiến giới đầu tư và chủ nợ lạc quan và họ dễ cho vay cũng như lấy lãi nhẹ. Hiệu ứng ngược lại, nếu GDP bị sút giảm, các nhà đầu tư bắt đầu lo lắng và hoảng loạn, họ bắt đầu nghĩ đến sẽ có nhiều sự phá sản của các doanh nghiệp, tỷ lệ thất nghiệp gia tăng, tiền lương trả cho nhân công sẽ bị cắt hạ, dẫn đến sức mua của người tiêu dùng suy yếu, nhà nước sẽ thất thu về thuế thì lấy đâu ra tiền trả cho họ, cho nên người ta thường thổi phòng con số GDP cao để làm hoa mắt nhà đầu tư thiếu kinh nghiệm.
Tuy nhiên, thị trường và tài chính cũng như giới đầu tư họ không phải là trẻ con để dễ tin. Thí dụ, trong hành động mới nhất, Tổng cục Thống kê VN công bố số liệu "Số doanh nghiệp gặp khó khăn buộc phải tạm ngừng hoạt động trong năm là 71.391 doanh nghiệp, tăng 22,4% so với cùng kỳ năm trước,...".
Hay Bộ Lao động - Thương bình và Xã hội cùng Tổng cục Thống kê vừa công bố ít hôm những thành phần gọi là "ưu tú" có thể tạo năng suất lao động cao thì có đến 225.500 cử nhân, thạc sĩ thất nghiệp thì người được đào tạo thấp hơn thì lại khó kiếm việc làm.
Nói chung, chỉ cần vài thông tin, tuy chưa có tổ chức độc lập nào kiểm chứng, nếu không thì con số này còn nhiều hơn. Với những con số như vậy thì lấy đâu ra mức GDP cao sau này.
Thực tế đáng chú ý là mức nợ của của VN đã tăng vọt và ngày càng nặng hơn trong hành động trước đó khi WB cảnh báo nợ công Việt Nam tăng nhanh trong những năm gần đây, và phí tổn trả nợ có thể là gánh nặng ngày càng tăng cho ngân sách thì lấy đâu tiền để phát triển kinh tế bền vững.
Để tính toán cho kinh tế ta làm một phép tính đơn giản xem kinh tế VN phải phải bơm bao nhiêu tiền, hay vay thêm bao nhiêu tiền, để tạo thêm một đơn vị sản xuất. Đối với VN, phí tổn phải bơm mấy bạc vào kinh tế thì sản lượng mới tăng thêm được một bạc. Khi tháng 11/2015 vừa qua, Quốc hội VN thông qua chỉ tiêu tăng trưởng GDP năm 2016 là 6,7%, mức cao nhất từ năm 2008 tới nay. Việc VN đề ra chỉ tiêu tăng trưởng là 6,7% thì điều ấy có nghĩa là sản lượng kinh tế sẽ tăng thêm được mấy chục tỷ USD. Nếu con số tăng trưởng GDP 6,7% như vậy, thì VN phải bơm thêm gần ba hay bốn lần số tiền đó.
Hiện nay, với đà vay mượn quá cao như VN, nếu muốn duy trì được đà tăng trưởng 6,7% cho năm tới thì như vậy thì làm sao giải quyết mục tiêu giảm nợ xuống được?
Thực tế, khái niệm trong kinh tế học thì trong nền kinh tế thị trường làm gì có khái niệm đặt mục tiêu tăng trưởng phải ngần ấy phần trăm theo chỉ tiêu đề ra. Trong quá khứ tỷ lệ tăng trưởng GDP VN đạt mức cao 8,46% trong quý cuối cùng của năm 2007, và một năm sau thị trường cổ phiếu bị bể bọt đầu tư và dội sang thị trường bất động sản bị xì bóng, trong khi tỷ lệ lạm phát tăng đến 28,24% trong tháng 08/2008. Đồng nội tệ bị trượt giá nặng với cái giá quá đắt khi đặt ra chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế cao.
Thêm vào nữa chiến lược phát triển của VN quá tập trung vào ngoại thương và cột chặt đầu máy sản xuất vào xuất khẩu thay vì chú ý vào thị trường tiêu thụ nội địa để nâng đỡ cho thị trường xuất khẩu đang khó khăn vì tình trạng bứt neo và giảm phát của các nền kinh tế lớn thì xuất khẩu của VN sẽ giảm đi thấy lấy đâu ra sản lượng kinh tế cao khi thị trường tiêu thụ nội địa yếu. Yếu tố đáng ngại, doanh nghiệp tiêu dùng nội địa hễ nuôi lớn có thương hiệu thì bán cho nước ngoài, nếu mà có kích cầu nội địa tiêu dùng trong nước thì cũng chỉ vỗ béo doanh nghiệp nước ngoài. Đó là mâu thuẫn và đầy thách thức cho VN.

Phương Thơ, Morgan Stanley (NYSE: MS)

27 thg 12, 2015

ĐỒNG BẠC NÀO TRƯỢT GIÁ NẶNG NHẤT TRONG KHỐI CÁC NƯỚC KHỐI THÀNH VIÊN ASEAN GỒM 10 QUỐC GIA

ĐỒNG BẠC NÀO TRƯỢT GIÁ NẶNG NHẤT TRONG KHỐI CÁC NƯỚC KHỐI THÀNH VIÊN ASEAN GỒM 10 QUỐC GIA
Tỷ giá US Dollar / Burmese Kyat (MMK) sẽ là đồng bạc sẽ có giá trị trong tương lai gần kể từ dâu mốc năm 2012 khi Myanmar bắt đầu thả neo từ từ đồng bạc của họ.

ĐỒNG BẠC NÀO TRƯỢT GIÁ NẶNG NHẤT TRONG KHỐI CÁC NƯỚC KHỐI THÀNH VIÊN ASEAN GỒM 10 QUỐC GIA

Đầu tiên tôi nhắc lại là điều tồi tệ ở VN, các chuyên gia kinh tế họ không đủ nghiệp vụ tuyên truyền vì chuyên gia kinh tế thiếu kinh nghiệm trong phân tích bối cảnh rộng về hồ sơ các nền kinh tế, các thị trường tài chính, hay thị trường trái phiếu, cổ phiếu các nước để tuyên truyền nâng cao vị thế của đồng bạc VN, khi quanh năm họ cứ neo vào tỷ giá đồng USD mà ít phân tích các nền kinh tế các nước xung quanh về tỷ giá hối đoái của họ. Các chuyên gia kinh tế hay các tờ báo VN chỉ đi rình rập chép lại các bài báo của Mỹ phân tích lại thay vì họ tự đi phân tích lấy, hoặc họ quá kém trong nghiệp vụ phân tích tài chính quốc tế để tuyên truyền tỷ giá đồng nội tệ của họ.
Một thực tế mỉa mai thật phũ phàng, các nhà kinh tế ở VN thường không biết phân tích các thị trường chứng khoán, thị trường tài chính tiền tệ, và trái phiếu. Họ chỉ biết phân tích vĩ mô nền kinh của một nước nào đó, thí dụ như Mỹ, có lẽ họ hay đọc báo Mỹ như New York Times, Bloomberg, CNNMoney,...vì các tờ báo này hay phân tích nền kinh tế lớn như Mỹ, Nhật, EU,...và ít phân tích các nền kinh tế khác nên họ dễ "ăn trộm số liệu" và phân tích so sánh nền kinh tế VN với Mỹ và các nước đó. Nhất là hay so sánh tỷ giá USD / VND, USD / EUR,...thay vì nên đi so sánh tỷ giá các nước có đồng bạc gần VN hơn. Chẳng hạn các nước trong khối ASEAN để thuyết phục dân chúng và thị trường nước họ.
Trở về hồ sơ đồng bạc những nước nào trượt giá tồi tệ nhất trong 10 nước ASEAN? Thật may mắn, nếu xét trong một năm qua thì đồng bạc VND của VN không nằm cuối bảng. Nếu VN biết tuyên truyền như vậy thì không đến nỗi tệ để dân chúng hắt hủi đồng nội tệ VND như vậy. Phân tích kinh tế hay phân tích dữ kiện khác cần có dữ liệu rõ ràng.
Trong danh sách 10 nước ASEAN này thì đồng bạc của Myanmar có ký hiệu là MMK trượt giá nặng nề nhất khi giảm đến 26,97% trong gần 1 năm qua. Hiện nay 1 USD đổi được 1.305 MMK. Đồng MMK tăng giá mạnh nhất là trong tháng 10/2012, khi chỉ cần 847,95 MMK là đổi ra 1 USD. Tuy nhiên, đó không phải là đồng MMK mất giá, mà do chính quyền Myanmar thả nổi tỷ giá để cho đồng MMK về sát giá thật của nó khi xứ này hội nhập quốc tế, việc phá giá đồng MMK là điều tốt để hỗ trợ kinh tế xứ này cũng như giảm chí phí neo giá cố định vào đồng USD rất tốn kém vì cần phải có khối dự trữ ngoại tệ lớn, và Myanmar cũng ít nợ nần quốc tế bằng đồng USD nên thả nổi đồng bạc cũng khộng bị thiệt thòi cho họ mà còn có lợi nhiều thứ. Đối với VN nếu mà thả nổi đồng bạc VND thì vỡ nợ tan tành trước tiên nếu đồng bạc VND bị trượt giá 20% thì trả nợ bằng đồng USD còn lớn hơn Hy Lạp.
Xếp thứ 2 là đồng bạc của Malaysia có ký hiệu là MYR hay đọc là đồng Ringgit, có lẽ đây mới là đồng tiền trượt giá chính thức tệ nhất theo nền kinh tế bất ổn nhất. Trong 1 năm qua đồng MYR đã giảm đi 23,10% giá trị của nó. Đồng MYR bị trượt giá tồi tệ nhất vào cuối tháng 09/2015 khi giảm đến 4,4570 MYR mới đổi ra được 1 USD. Hiện nay còn 4,29 MYR thì đổi ra được 1 USD.
Thứ 3 là đồng Baht (THB) của Thailand, trong một năm qua đồng THB đã giảm đi đến 9,75% giá trị của nó bởi bất ổn chính trị và phe tướng lĩnh bất tài trong điều hành kinh tế, khi đã đưa quốc gia này lệ thuộc vào thị trường TQ, thật không may, nền kinh tế TQ suy, kéo Thailand đi theo. Thailand đã mất thị trường truyền thống vào Mỹ, Đức, Nhật,...khi chuyển hướng vào TQ. Đồng THB trong cuối tháng 12/2014, khi chỉ có 32,610 THB đổi ra được 1 USD thì nay phải mất tới 36,042 THB mới đổi được 1 USD.
Thứ 4 là đồng Rupiah có ký hiệu là IDR, hiên nay phải đến 13.631,40 IDR mới đổi được 1 USD. Vào cuối tháng 12 năm ngoái, khi chỉ cần 12.378 IDR là đổi ra được 1 USD. Đồng Rupiah bị trượt giá nặng nề khi món nợ công của Indonesia tăng mạnh, khi cơ quan thẩm định trái phiếu S & P và cũng là cơ quan nắm giữ trái phiếu của Indonesia phát hành mà giới đầu tư cho vay, nó báo gồm Morgan Stanley (MS: NYSE), Bank of America (NYSE: BAC), Deutsche Bank yết giá tại Frankfurt của chỉ số chứng khoán DAX (FWB: DBK), tại New York mã chứng khoán của Deutsche Bank (NYSE: DB), Société Générale (Pháp). S & P hai lần hạ thấp các tờ giấy nợ do Indonesia phát hành từ cấp BBB- xuống cấp BB+ (tiêu cực), khiến lợi suất trái phiếu của Indonesia vọt lên trời, đồng nội tệ Rupiah trượt giá nặng, và trong động thái mới S & P đã nâng cấp trái phiếu của Indonesia lên mức BB+ (tích cực).
Xếp thứ 5 là đồng bạc Việt Nam có ký hiệu là VND, trong một năm qua, đồng tiền quốc gia có mức tăng trưởng GDP cao nhất khối ASEAN, đồng bạc VND đã mất giá đến 7,11%. Tuy nhiên xét về hiệu suất trượt giá thì đồng nội tệ VND dẫn đầu danh sách, khi đồng bạc này trượt giá thì không bao giờ tăng lại. Chẳng hạn vào tháng 03/2008, thì đồng bạc VND có giá là 15.570 VND thì đổi được 1 USD, tuy nhiên tính đến nay, giao dịch trên thị trường chính thức tại New York, đồng bạc VND đã giảm giá trị của nó và phải đến 22.517 VND mới đổi ra được 1 USD, tất nhiên đây là giá tham chiếu nên giá sẽ thấp hơn giá thị trường tại VN, bởi giá thực tế tại thị trường VN có lúc lên đến 22.700 VND = 1 USD.
Thực tế, đồng nội tệ VND chỉ bị phá giá nặng nề vào trong tháng 08/2015 khi TQ phá giá đồng CNY của họ. Tỷ giá hối đoái USD / VND duy trì ở mức 21.796 VND = 1 USD trong tháng 05/2015 và giữ được 21.822 VND đến hết ngày 11/08/2015, nhưng kể từ đó TQ phá giá đồng bạc của họ 3 lần liền, khiến đồng bạc của VND trượt giá từ đó. Điều khôi hài là VN đi vay và trả lãi bằng đồng USD nhưng lại bị tác động từ TQ. Đó là một sự mỉa mai thiếu kinh nghiệm trong sự tính toán tỷ giá hối đoái sao cho có lời. Vì khi phá giá đồng bạc như vậy VN đã phải trả giá đắt khi vốn hóa thị trường chứng khoán bốc hơi nhiều tỷ USD và gánh nợ công tăng lên gặp lúc nhiều khoản nợ sắp đáo hạn bằng đồng USD tới gần.
Xếp thứ 6 là đồng bạc Dollar Brunei có ký hiệu là BND, giá trị đồng bạc này giảm theo giá dầu, trong 1 năm qua đồng bạc BND đã giảm đi 6,45%. Vào tháng 07/2011, đồng bạc Dollar Brunei bị trượt giá nặng nề khi phải đến 1,20 BND là đổi ra được 1 USD. Hiện nay 1,41 Brunei Dollar đổi được 1 USD.
Xếp thứ 8 là đồng Peso của Philippines, khi đồng bạc này trượt giá 5,65% trong 1 năm qua.
Xếp thứ 9 là đồng nội tệ của Lào có ký hiệu là (LAK) chỉ trượt giá khoảng 0,98%, tức là chưa tới 1% so với đồng USD theo tỷ giá USD / LAK.
Xếp thứ 10 là đồng nội tệ của Cambodia có ký hiệu là (KHR) giữ được ngôi đầu bảng khi trong xuyên suốt một năm qua chỉ bị trượt giá 0,22% so với đồng USD theo tỷ giá USD / KHR.
Tỷ giá US Dollar / Burmese Kyat (MMK) sẽ là đồng bạc sẽ có giá trị trong tương lai gần kể từ dâu mốc năm 2012 khi Myanmar bắt đầu thả neo từ từ đồng bạc của họ. Việc Myanmar thả nổi giá trị đồng MMK không là vấn đề bận tâm, bởi quốc gia này nợ ít, nên tác động không là bao nhiêu, và sẽ có lợi trước mắt hay về dài cho xứ này sẽ vượt mặt VN không bao xa. Hiện nay 1 USD đổi được 1.305 MMK (Xem hình).

Phương Thơ, Morgan Stanley (NYSE: MS)

ĐỒNG ĐÔ LA SINGAPORE (SGD) TẠO RA NỢ PHÁT TRIỂN KINH TẾ BỀN VỮNG CỦA XỨ DÂN ÍT ĐẤT HẸP

ĐỒNG ĐÔ LA SINGAPORE (SGD) TẠO RA NỢ PHÁT TRIỂN KINH TẾ BỀN VỮNG CỦA XỨ DÂN ÍT ĐẤT HẸP

ĐỒNG ĐÔ LA SINGAPORE (SGD) TẠO RA NỢ PHÁT TRIỂN KINH TẾ BỀN VỮNG CỦA XỨ DÂN ÍT ĐẤT HẸP

Singapore chỉ có diện tích 718,3 km², với số dân cũng chỉ có 5,47 triệu người, vậy mà quốc gia này có tổng sản lượng GDP nên đến 307,87 tỷ USD trong năm 2014, và năm 2015 sẽ còn lớn hơn nữa. Tuy chỉ với diện tích nhỏ bé với số dân ít ỏi nhưng sản lượng GDP của Singapore đại diện cho nền kinh tế thế giới chiếm đến 0,50%, so với mức 0,30% (186,20 tỷ USD) của sản lượng GDP của VN tạo ra năm 2014. Hãy nhớ rằng, Singapore trước đây chỉ là một nước nghèo túng với sản lượng GDP chỉ có 700 triệu USD vào năm 1960 khi còn sáp nhập với Malaysia.

Không giống như các nước khác, Singapore biết tạo ra nợ và sự tín nhiệm đồng nội tệ SGD để phát triển kinh tế dựa vào nội lực bên trong và tích lũy học tập bên ngoài, khiến quốc gia này đi tắt đón đầu và trở thành một trong những quóc gia có mức thu nhập cao ngất ngưởng của thế giới.

Cụ thể GDP bình quân đầu người PPP thu được bằng cách chia tổng sản phẩm quốc nội trong nước, được điều chỉnh bởi sức mua tương đương, bởi dân số của Singapore thì lên đến 78.958 USD, chỉ xếp sau Luxembourg là 88.850 USD, và đứng trước cả Thụy Sĩ, Thụy Điển, Mỹ, Nhật, Anh, Pháp, Đức,...nhưng GDP bình quân đầu người của Singapore chỉ ở mức trung bình khá là 38.088 USD chỉ bằng các nước Âu châu kể trên nhưng trừ Luxembourg ra.

Trong phát triển kinh tế, hầu hết các quốc gia trên thế giới dựa trên nợ để tài trợ cho các chính phủ và nền kinh tế của họ có tiền để đầu tư, tạo ra sản lượng GDP và nâng cao mức sống cho công dân nước họ. Tất nhiên, nếu tốt hơn khi tạo ra các khoản nợ này nếu được sử dụng một cách hợp lý và giữ mức nợ vừa phải, nó là công thức đơn giản để nền kinh tế tăng trưởng nhanh hơn và giảm phí tổn về chi phí trả nợ và lãi vay. Nếu tạo ra quá nhiều nợ có thể dẫn đến một số vấn đề cho kinh tế, nên người ta đưa ra tỷ lệ nợ so với GDP nhằm định hướng để giúp các nhà đầu tư xác định xem một đất nước có quá nhiều nợ, hay ít nợ. Nếu quá nhiều nợ nó sẽ là khó khăn để có được các khoản vay tốt với lãi suất thấp.

Tuy nhiên, đối với Singapore, quốc gia này có thành tích nợ so với GDP thuộc hàng Top đầu của thế giới như Nhật, Hy Lạp, Zimbabwe, Lebanon, Italy, Bồ Đào Nha, Jamaica, Cyprus, Ireland, Belgium (Bỉ),...Tức là nợ trên 100% so với sản lượng GDP của họ. Mỹ thì mới mắc nợ trên 100% trong năm 2014, và năm 2015 đã giảm xuống một chút.

Điều gì khiến nhiều chuyên chuyên gia kinh tế VN trước đây hay so sánh nợ của VN với Nhật, Mỹ, Singapore. Thậm chí có chuyên gia kinh tế VN còn ví Singapore sẽ là một Hy Lạp và VN sớm muộn gì cũng vượt qua Singapore trong dăm mươi năm nữa nếu GDP của VN cứ tăng trưởng trên 6,5% - 7% hàng năm, và VN nợ ít hơn Singapore phân nửa so với GDP nên sẽ còn nhiều khí cụ tạo ra nợ để có mức tăng trưởng cao.

Thật không may, những phân tích lý luận kiểu so sánh nợ của Nhật, Mỹ, Singapore là vô hại và thiếu kinh nghiệm. Hiện nay Singapore là quốc gia không nợ nước ngoài bằng đồng ngoại tệ hay kể cả đồng nội tệ Singapore Dollar ký hiệu SGD một xu lẻ nào. Cho nên, ta thấy năng suất trái phiếu chính phủ bằng ngoại tệ do Singapore phát hành, thường được gọi tắt là trái phiếu chủ quyền, nó được báo cáo đẻ cho các nhà đầu tư cho các chính phủ để vay vốn với sự phản ánh kỳ vọng lạm phát và khả năng các khoản nợ đó mà chính phủ Singapore vay sẽ được hoàn trả ở mức trần 2,44% mà thôi, thấp hơn 1/3 so với năng suất trái phiếu của VN phát hành.

Hãy thận trọng, Singapore là quốc gia hiếm có được các tổ chức đánh giá tín nhiệm quốc tế xếp vào thứ hạng cao nhất là ba chữ A hoa là AAA, một mức khả tín đáng tin cậy, nếu bây giờ Singapore kẹt tiền mà phát hành trái phiếu đi vay chỉ trả tiền lời cỡ mức thương lượng là thấp hơn 2,44%, nên đừng lấy đó mà đi so sánh.

Tất cả các khoản nợ của Singapore được yết giá bằng đồng nội tệ là đồng SGD, nên Singapore không bị áp lực trả lãi vay dù nợ nhiều nhưng rất khó vỡ nợ, vì chủ nợ và chủ nhà in giấy bạc, và cũng là người quyết định lãi suất lại là Ngân hàng trung ương Singapore (MAS), và dân chúng xứ này, nên Singapore không bị áp lực tăng lãi suất trên các khoản vay nay đã vượt 100% so với GDP của họ.

Lý do, Singapore là những trường hợp ngoại lệ giống như Nhật, đó là vì hầu hết các khoản vay nợ của Singapore là do chính công dân của họ là chủ nợ, đó là những người mua trái phiếu chính phủ như là một hình thức tiết kiệm cá nhân, nó cũng bao gồm các tổ chức bởi quỹ tín thác an sinh xã hội của họ. Thực tế, Singapore đã không vay để tài trợ cho thâm hụt chi tiêu của họ từ những năm 1980.

Đáng ngại, tuy với số dân ít ỏi như vậy nhưng quốc gia này có khối dự trữ ngoại tệ rất lớn lên đến 248 tỷ USD, dự trữ vàng đến 127 tấn. Thực tế với mức dự trữ ngoại tệ và đánh giá tín nhiệm tốt như vậy thì về lý thuyết việc Singapore quyết định dùng đồng USD hay đồng SGD của họ cho giao hoán bán buôn hay làm dự trữ ngoại tệ của họ đều như nhau. Tất nhiên, để nâng cao vị trí đồng nội tệ cho dân chúng, thực tế dự trữ ngoại tệ của Singapore ghi bằng đồng nội tệ SGD. Để làm việc này Singapore đã neo tỷ giá của họ cố định chốt chặt vào đồng USD, nhưng trong năm 2015, nền kinh tế Singapore gặp khó khăn khi xuất khẩu vào thị trường lớn nhất là các nước đang gặp khó khăn về kinh tế như Trung Quốc, Malaysia, Hồng Kông, Indonesia, Liên minh châu Âu,...

Tuy nhiên, ngành du lịch đã đón được 1.134.218 lượt khách trong tháng 11 vừa qua, mức cao nhất là 1.516.733 lượt khách trong tháng 07/2015, đã kịp bù đăp phần nào sự khó khăn cho Singapore.

Trong năm qua, dự trữ ngoại tệ và tài sản của dân chúng Singapore đã giảm đi nhiều do đồng nội tệ SGD trượt giá đến 6,25% trong suốt một năm qua. Vì hầu hết các khoản tích trữ tài sản của Singapore được chuyển sang bằng đồng SGD. Vì đồng tiền có giá và hay tăng giá trước đây so với đồng USD lên lãi suất chỉ đạo tại Singapore hiện nay là rất thấp nếu không muốn nói là để ngân hàng giữ hộ tiền mà không trả lãi và chỉ ở mức 0,64%.

Về lãi suất của Singapore (SIBOR), họ làm giống như lãi suất liên ngân hàng LIBOR ở Anh, hay Euribor (Âu châu), TIBOR (Á châu-Tokyo, Nhật). Thực chất là SIBOR neo vào lãi suất LIBOR để đưa gia quyết định về lãi suất với sự tham gia của nhiều ngân hàng như Citigroup (NYSE: C), Barclays Plc (FTSE 100 mã chứng khoán BARC: LN, tại New York NYSE: BCS), và 3 ngân hàng của Singapore là DBS Bank, United Overseas Bank (UOB) và OCBC Bank,...

Ta giải thích, lãi suất tại Singapore nó phản ánh lãi suất cho vay giữa các định chế tài chính với nhau và được sử dụng như một tham chiếu (benchmark) các quyết định chính sách tiền tệ được đưa ra bởi Cơ quan Tiền tệ Singapore (Bộ Tài chính Singapore). Các Cơ quan Tiền tệ Singapore không kiểm soát hệ thống tiền tệ bằng cách giám sát lãi suất. Thay vào đó, nó quản lý tỷ giá đồng SGD so với các đồng tiền của các đối tác thương mại lớn của Singapore,...nhằm nâng cao vị thế của đồng nội tệ nước này.

Đối với tỷ giá liên ngân hàng thì ở mức 0,88%, nhưng lãi suất mà các ngân hàng thương mại cho vay tại Singapore là khá cao, lên đến 5,35%. Ta thận trọng, các khoản lãi suất cho vay chính thức là mức tính trung bình của lãi nó được tính vào các khoản vay của 10 ngân hàng hàng đầu của Singapore cũng như các công ty tài chính cho các công ty tư nhân cá nhân và các hộ gia đình vay vốn.

Test tỷ giá US Dollar / Singapore Dollar ta thấy, đồng SGD có đồ thị khá mạnh mẽ như đồng USD, EUR, yên Nhật (JPY), tất nhiên hình mô phỏng sẽ khác. Ta thấy, trong cuối tháng 08/2011, đồng SGD tăng khá mạnh ở mức 1,20 SGD ăn 1 USD, dù kinh tế thế giới bị suy thoái, nhưng do đồng tiền tăng mạnh nên Singapore đã đủ chống đỡ các cuộc khủng hoảng nhờ sức tiêu thụ nội địa tăng do đồng bạc có giá. Tuy nhiên mức trượt giá nặng nhất là vào đầu tháng 10/2015, khi phải đến 1,4328 SGD ta xem như 1,43 SGD mới đổi ra 1 USD. Hiện nay thì đã giảm xuống còn 1,40400 SGD mới đổi ra 1 USD ta xem như 1,40 SGD = 1 USD, vì SGD đang ở pha tăng so với đồng USD.

Ngẫm lại, đối với VN, trong hành động mới nhất khi Tổng cục Thống kê đã công bố tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2015 ước tăng 6,68% so với năm 2014. Nghiêm trọng, khi chỉ riêng GDP của quý 4 tăng tới 7,01%, cao hơn mức tăng 6,12% của quý 1, 6,47% của quý 2 và 6,87% trong quý 3. Và kết luận GDP cả năm 2015 ước tính đạt 6,68%, vượt so với kế hoạch đề ra là 6,2%. Thật đáng ngại, với mức tăng GDP hung hãn cao nhất thế giới này thì chỉ dăm mươi năm nữa sản lượng kinh tế của VN sẽ vượt Singapore, Hàn Quốc,... và thu nhập của người VN sẽ vượt các nước này không bao xa, nhưng đồng bạc VND còn thua cả tiền Lào, Cambodia,...đó là sự mỉa mai.

Phương Thơ, Morgan Stanley (NYSE: MS)