29 thg 7, 2015

Điều gì đã làm cho vàng rơi xuống đáy?

Sự thiếu vắng các yếu tố hỗ trợ khiến cho giá vàng liên tục thủng đáy trong suốt nhiều năm và quá trình này khó có thể chấm dứt trong ngắn hạn.

Có 6 đồng ngoại tệ lưu hành rộng trên thế giới được chọn ra để tính giá trị đồng USD qua chỉ số USDX hoặc US Dollar Index (DXY) bắt đầu ở mức chuẩn 100 vào tháng 3 năm 1973, gồm: đồng Euro (EUR), Yên Nhật (JPY), Bảng Anh (GBP), đôla Canada (CAD), Krona Thụy Điển (SEK) và Franc Thụy Sĩ (CHF).

Cần lưu ý là giá vàng thường tăng giảm ngược chiều với đồng USD. Chỉ số US Dollar Index tăng trưởng liên tục trong nhiều tháng qua khiến cho giá vàng gặp bất lợi.

Tương quan giá vàng và chỉ số US Dollar Index (Nguồn: VietstockUpdater)

Đối với Eurozone thì Ngân hàng Trung ương Âu châu (ECB) đang duy trì lãi suất gần số không là 0.05%, lãi suất liên ngân hàng thì âm 0.02%. Lãi suất "Fed Funds Rate" do Hội đồng Thống đốc Cục Dự trữ Liên bang và Ủy ban Thị trường mở Liên bang (FOMC) duy trì ở mức 0.25%. Nhật thì lãi suất chính thức của BoJ duy trì ở mức 0%, lãi suất liên ngân hàng là 0.1%. Thụy Sĩ thì Ngân hàng Trung ương Thụy Sĩ (SNB) cắt hạ lãi suất dưới số âm đến 75 điểm cơ bản, tức -0.75%, lãi suất liên ngân hàng âm 1.01%. Thụy Điển duy trì lãi suất âm 0.35%, lãi suất liên ngân hàng cũng âm 0.21%. Tại Canada, Bank of Canada duy trì lãi suất ở mức 0.5%, lãi suất liên ngân hàng 0.75%. Tại Vương quốc Anh, Ngân hàng Anh có hoạt động độc lập và các quyết định về lãi suất được thực hiện bởi Ủy ban Chính sách tiền tệ (MPC). Lãi suất chính thức của Ngân hàng Anh hiện ở mức 0.5%, lãi suất liên ngân hàng 0.55%.

Từ kết quả thống kê sơ lược trên, rõ ràng vàng không có lực hỗ trợ nâng đỡ bên dưới, tức là thế giới ngày nay đang chứng kiến sự giảm phát chứ không phải lạm phát. Hiểu theo thuật ngữ kinh tế thì thế giới đang khuyến khích chi tiêu hơn để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế; hoặc mua cổ phiếu, trái phiếu thay vì cất giữ tài sản bằng vàng mà không sinh lời.

Giá vàng cũng là một chỉ số tốt để đánh giá sức khỏe lành mạnh của nền kinh tế Mỹ và gắn liền với sự tăng giảm của chỉ số công nghiệp Dow Jones (DJIA). Giá vàng cao là khi nền kinh tế Mỹ suy yếu và không lành mạnh. Lý do là các nhà đầu tư đã rời bỏ trái phiếu, cổ phiếu để đầu tư vào vàng khi họ muốn bảo vệ các khoản đầu tư của họ trước một cuộc khủng hoảng kinh tế Mỹ hay lạm phát trên bình diện toàn cầu. Khi giá vàng giảm thì điều này thường có nghĩa là nền kinh tế Mỹ lành mạnh. Bởi vì các nhà đầu tư đã rời bỏ vàng, để tìm kiếm các khoản đầu tư khác hấp dẫn hơn như cổ phiếu, trái phiếu hay bất động sản,...

Vào ngày 05/09/2011, bong bóng tài sản của vàng xảy ra khi vàng đạt kỷ lục mọi thời đại là 1,895 USD/oz. Điều này có nguyên nhân từ báo cáo tỷ lệ thất nghiệp tăng cao tại Mỹ, cũng như đang diễn ra cuộc khủng hoảng nợ ở khu vực đồng Euro và kéo dài sự không chắc chắn xung quanh việc Mỹ rơi vào khủng hoảng "debt ceiling" (trần nợ), Medicaid và Obamacare...
Thực tế, nếu bạn là nhà đầu tư giàu kinh nghiệm, có thể thấy vàng tăng giá mạnh vào năm 2011 có nhiều lý do của nó. Cụ thể, trong tháng 04/2011 khi cơ quan thẩm đình tài chính Standard & Poor's (S&P) hạ thấp định mức trái phiếu dài hạn và ngắn hạn của chính quyền Mỹ. Cụ thể, Standard & Poor's hạ một nấc trái phiếu dài hạn của Mỹ, tuy vẫn duy trì ở loại "AAA" đáng tin nhất, nhưng từ "stable - ổn định" xuống "negative - tiêu cực", đồng thời trái phiếu ngắn hạn của Mỹ cũng bị hạ tới cấp gọi là "A-1+". Việc này khiến lợi suất trái phiếu của Mỹ vọt lên trời, gây rúng động các thị trường tài chính và chứng khoán thế giới, khi chỉ số chứng khoán công nghiệp Dow Jones từ 12,810.54 điểm trong tháng 04/2011 rơi xuống 11,934.58 điểm trong tháng 06/2011. Các nhà đầu tư đổ xô vào vàng, đẩy giá vàng tăng không ngừng nghỉ. Kinh nghiệm cho thấy rằng, khi thị trường chứng khoán Mỹ tăng thì giá vàng giảm và ngược lại.

Đã thế, trong tháng 08/2011, Standard & Poor's lần đầu tiên tước mất tín nhiệm "AAA" của Mỹ xuống còn "AA+". Chỉ số công nghiệp Dow Jones rơi xuống đáy thấp nhất trong tháng 09/2011 khi còn 10.771,48 điểm, và cũng là mức thấp nhất trong năm. Việc này khiến các nhà đầu tư bán tháo trái phiếu và cổ phiếu để mua vàng như là hầm trú ẩn an toàn để bảo vệ tài sản của họ, nên đã đẩy giá vàng tăng kỷ lục lên mức 1,895 USD/oz trong tháng 09/2011.

Khi kinh tế Mỹ hồi phục, vàng rơi xuống đáy, chỉ số công nghiệp Dow Jones có lúc đạt đỉnh cao nhất mọi thời đại trong phiên giao dịch ngày 19/05/2015 ở mức 18,312.39 điểm, từ đó đẩy giá vàng rơi thẳng đứng xuống dưới ngưỡng tâm lý là 1,200 USD/oz.
Sự gia tăng giá vàng đến mức cao kỷ lục 1,895 USD/oz trong tháng 09/2011 là kết quả của cuộc suy thoái tồi tệ nhất của nền kinh tế Mỹ kể từ cuộc đại khủng hoảng 1929. Bây giờ mọi thứ đã ổn định, giá vàng sẽ quay trở lại mức lịch sử của nó, dưới 1,000 USD/oz.

Một kinh nghiệm cho thấy, giá vàng thường bật tăng mạnh sau một đợt điều chỉnh của thị trường chứng khoán Mỹ kéo dài khoảng 20 ngày. Tuy nhiên, sau đó, giá vàng có xu hướng mất giá trị tương đối so với các cổ phiếu khi thị trường chứng khoán hồi phục. Bây giờ, khi cơn ác mộng sụt giá chứng khoán đã qua, dòng tiền di chuyển trở lại vào trái phiếu, cổ phiếu và vàng đã không còn là một kênh đầu tư được ưa chuộng nữa.
Thứ nữa, vàng thường có xu hướng là không tương quan với các tài sản khác. Điều này có nghĩa là nó không đi lên khi các loại tài sản khác giảm. Nghĩa là không có một mối quan hệ nghịch đảo, như cổ phiếu và trái phiếu tương tác với nhau. Điều này đặc biệt đúng trong cộng đồng đầu tư, khi lợi suất trái phiếu chính phủ 10 năm của Mỹ tăng vọt lên trên 3.50%. Thay vào đó, vàng là phản ánh của rất nhiều cảm xúc đầu tư khác nhau. Đây là một lý do để coi vàng như là một phần của danh mục đầu tư được đa dạng hoá toàn cầu ngày nay. Dù vàng hiện nay đang bị "ghẻ lạnh" nhưng nó vẫn được tìm thấy trong rổ dự trữ tài sản của các ngân hàng trung ương các nước trên thế giới.

Người dân Việt Nam có truyền thống tích trữ vàng khá nhiều từ xưa đến nay. Hiếm tổ chức nghiên cứu nào biết được vàng trong dân được định giá bao nhiêu tỷ USD nhưng con số này được cho là rất lớn. Đó là điều đáng tiếc khi khối tài sản đóng băng này đang ngủ yên và không được đem ra đầu tư sinh lời vì nhiều lý do.

Phạm Quốc Hoàng - William D. Dudley

Kinh tế Việt Nam 6 tháng đầu năm và dự báo 2015

BỐI CẢNH KINH TẾ THẾ GIỚI 2015
Báo cáo Cập nhật kinh tế giới (T6/2015) của WB hạ dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu còn 2,8% so với mức dự báo 3,0% hồi T1/2015..

Bảng: Tổng hợp các dự báo của các tổ chức.
Nguồn: World Bank, IMF

- Mặc dù có vấn đề nợ công Hy lạp và suy giảm kinh tế TQ. Nhưng IMF và WB đều nhận định năm 2015 vẫn có sự tăng trưởng chứ không rơi vào suy thoái và sẽ ở múc 2,8% - 3,5%. Dự báo Kinh tế thế giới sẽ tăng trưởng cao hơn trong năm 2016 nhờ đà kéo của kinh tế Mỹ, cũng như sự vượt qua khó khăn của kinh tế châu Âu.

- Chính sách tiền tệ các nước giữ xu thế nới lỏng, cùng với nâng lãi suất của FED khiến đồng USD lên giá. Dự báo dòng tiền từ các nước mới nổi sẽ chuyển về Mỹ làm đồng USD lên giá. Tuy nhiên do khu vực đồng Euro và Nhật Bản đang tiếp tục thực hiện chính sách nới lỏng tiền tệ để kích thích kinh tế, có khả năng một lượng vốn chảy sang thị trường các nước mới nổi nếu có sự chuẩn bị tốt và kinh tế khởi sắc.

- Qua nhận định trên, kinh tế VN sẽ thuận lợi hơn nếu tích cực gia tăng hội nhập với các nước phát triển. Dòng vốn đầu tư vào VN có hai xu thế trái chiều. Nếu kinh tế VN tiếp tục ổn định và cải thiện tích cực về môi trường kinh doanh thì nhiều khả năng sẽ thu hút thêm vốn đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên VN cần quan tâm và có giải pháp thích hợp đến tác động của đồng USD tăng.




NÉT CHÍNH KINH TẾ VIỆT NAM 6T2015
1. TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ (GDP)
GDP tăng cao nhất trong 5 năm qua là dấu hiệu tích cực. Tăng trưởng GDP 6T2015 của Việt Nam đạt 6,28%, cao hơn tăng trưởng cùng kỳ 2014 (5,22%), 2013 (4,9%).
Nguồn: Tổng cục thống kê
Tăng trưởng GDP 6T20145 cao nhất trong 5 năm trở lại đây, cho thấy kinh tế VN đang từng bước phục hồi. Tuy nhiên nhóm ngành dịch vụ tăng thấp cho thấy thị trường nội địa còn yếu, đặc biệt khu vực nông nghiệp đang gặp khó khăn vì giá giảm.


2. SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP
SXCN tăng khá tốt, nhưng cơ cấu tăng trưởng chưa thực sự lạc quan. Tính chung 6T2015, chỉ số IIP tăng 9,6% so với cùng kỳ năm trước. Đáng lưu ý là trong toàn ngành công nghiệp thì ngành chế biến-chế tạo tăng vượt trội, đạt mức tăng 10%. Đây là lĩnh vực có sự tham gia rất lớn của khối DN FDI.

Nguồn: Tổng cục thống kê

Cần lưu ý chỉ số IIP tăng chủ yếu nhờ các DN FDI, còn PMI tuy có tăng nhưng vẫn trên mức tối thiểu 50 điểm rất ít, chưa có sự cải thiện rõ rệt. Do vậy SX công nghiệp VN vẫn chưa thực sự lạc quan.



3. CHỈ SỐ GIÁ TIÊU DÙNG (CPI)
CPI ổn định ở mức thấp hỗ trợ giảm lãi suất phát triển kinh tế. Tuy nhiên nó cũng thể hiện sức mua đang suy giảm. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) T6/2015 tăng 0,35% m/m và tăng 0,55% so với T12/2014.
Nguồn: Tổng cục thống kê

CPI trong 6T.2015 thấp hơn nhiều so với cùng kỳ 2 năm trước, điều này sẽ tiếp tục góp phần ổn định kinh tế và hỗ trợ đầu tư phát triển. Tuy nhiên cũng cần quan tâm CPI giảm mạnh trong 6T2015 còn có tác nhân của sức cầu nội địa giảm do thu nhập người dân thấp và kém lạc quan trong tiêu dùng. Điều này đòi hỏi những giải pháp của Chính Phủ giữa ổn định và tăng trưởng kinh tế bền vững.


4. DOANH THU BÁN LẺ
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ 6T2015 đạt 1.572,1 nghìn tỷ đồng, tăng 9,8% y/y, nếu loại trừ yếu tố giá thì tăng 8,3%, cao hơn mức tăng 5,7% của cùng kỳ 2014. Theo nhận định thì trong 6T2015, giá các nhóm hàng hóa ổn định, các doanh nghiệp bán lẻ đẩy mạnh công tác bán hàng và hậu mãi nên sức mua được cải thiện.
Nguồn: Tổng cục thống kê

Hoạt động bán lẻ và KD dịch vụ 6T2015 cao hơn cùng kỳ 2014 là một tín hiệu tích cực. Điểm quan tâm là tỷ lệ tăng trưởng không bằng các năm trước, nên chưa là động lực giúp tăng trưởng kinh tế. Chính phủ cần quan tâm để tăng sức mua nội địa.



5. CÁN CÂN THƯƠNG MẠI (BOT)
XK có mức tăng thấp hơn năm 2014, nhưng nhập khẩu tăng khiến VN nhập siêu trở lại sẽ gây áp lực tỷ giá. Trong 6T2015 Việt Nam, XK đạt 77,7 tỷ USD và NK đạt 85,1 tỷ USD,nhập siêu 3,78 tỷ USD, bằng 4,8% tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu, đây là tỷ lệ nhập siêu lớn nhất trong vài năm qua.
Nguồn: Tổng cục thống kê

Tình trạng nhập siêu tăng trở lại là do khu vực đầu tư trong nước nhập siệu đến 9,8 tỷ USD, tăng 44% so với cùng kỳ 2014. Trước tình trạng xuất nhập khẩu đang dần mất cân đối, xuất khẩu tăng thấp hơn nhập khẩu nên dự báo năm 2015 sẽ trở lại tình trạng nhập siêu do giá trị gia tăng xuất khẩu không bù được nhu cầu nhập khẩu thiết bị và hàng hoá tiêu thụ nội địa.



6. HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ
Đầu tư công và FDI tăng mạnh là động lực cho nền kinh tế, nhưng gây quan ngại về nợ công và bội chi ngân sách.
Đầu tư từ vốn NSNN 6T2015 đạt 92,3 nghìn tỷ đồng, bằng 44,8% kế hoạch năm và tăng 1,7% y/y. Vốn FDI đăng ký trong 6T2015 đạt 5,49 tỷ USD, giảm 19,8% y/y nhưng số vốn giải ngân lên tới 6,3 tỷ USD, tăng 9,6% y/y.
Nguồn: Tổng cục thống kê

Hoạt động đầu tư FDI được xem là điểm sáng trong bức tranh kinh tế 6T2015 của Việt Nam, mặc dầu vốn đăng ký thấp hơn năm 2014, nhưng mức giải ngân tăng 9,6% so với cùng kỳ 2014.
Đầu tư công tăng mạnh sẽ tạo động lực thúc đẩy kinh tế cuối năm.



7. CÂN ĐỐI NGÂN SÁCH
Thu chi NS diển tiến khá tốt so với kế hoạch. Tuy nhiên, mặc dầu thu tăng so với cùng kỳ, nhưng chi tăng mạnh hơn, trong đó khoản chi trả nợ tăng mạnh kiến bội chi NS đã ở mức 5% GDP, cao hơn hẳn so với giai đoạn trước chỉ ở mức 2,7%. Nợ công cũng đã ở mức ngưởng an toàn là 64% GDP là điều rất đáng quan tâm.
Kết quả thu ngân sách: Dự toán thu NSNN thu 6 tháng ước đạt 446,12 nghìn tỷ đồng, bằng 49% dự toán, tăng 6% so với cùng kỳ năm 2014. Trong đó: Kết quả chi NSNN: lũy kế chi 6 tháng đạt 545,18 nghìn tỷ đồng, bằng 47,5% dự toán, tăng 8,2% so cùng kỳ năm 2014.



8. HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG
Hoạt động NH khá ổn định và có dấu hiệu tăng tốc tín dụng, đặt biệt là vay trung hạn. Điều này có thể gây sức ép về huy động.
Nguồn: NHNN

Lãi suất huy động 6T2015 giảm đáng kể nhờ (1) lạm phát tăng thấp và ổn định, (2) NHNN định hướng duy trì lãi suất thấp để hỗ trợ tăng trưởng và (3) thanh khoản hệ thống ngân hàng cải thiện.

Tín dụng của hệ thống ngân hàng 6T2015 diễn biến khá thuận lợi. Tính đến hết tháng 15/06/2014, tín dụng toàn nền kinh tế ước tăng 5,78% so với T12/2014, cao hơn mức tăng cùng kỳ của 2013 (4,72%) và 2014 (3,52%).
Nguồn: NHNN

Tăng trưởng tín dụng 6T2015 khá tích cực. Nguyên nhân chủ yếu do (1) sức cầu tín dụng tăng trở lại, (2) niềm tin dần cải thiện và (3) các NHTM mạnh dạng hơn trong cho vay. Với những tín hiệu khả quan này thì mục tiêu tín dụng tăng 13 – 15% cho năm 2015 nhiều khả năng sẽ đạt được, thậm chí vượt cả kế hoạch.



9. THỊ TRƯỜNG NGOẠI HỐI
Tỷ giá USD vẫn được kiểm soát ổn định, tuy nhiên cùng với đồng USD mạnh lên và nhận siêu có thể làm tăng sức ép tỷ giá.
Nguồn: Vietcombank

VND giảm giá mạnh so với đồng USD nhưng tăng giá so với đồng EUR và JPY. Từ nay đến cuối năm nhiều khả năng tỷ giá USD sẽ không tăng do đã hết dư địa tăng theo cam kết của NHNN. Tuy nhiên nhập siêu đang tăng, và tỷ giá hiện nay không thuận lợi cho xuất khẩu sẽ là vấn đề đáng quan tâm






NHẬN ĐỊNH KINH TẾ VIỆT NAM 6T2015 VÀ TRIỂN VỌNG 2015
Cập nhật dự báo tăng trưởng GDP của Việt Nam giai đoạn 2015 – 2016 của các tổ chức tài chính:
Nguồn: Tổng hợp

Dựa trên các số liệu kinh tế 6T2015 cho thấy kinh tế năm 2015 vẫn đang hồi phục với sự ổn định của kinh tế vĩ mô và các chỉ số kinh tế quan trọng. Đa số các Tổ chức và chuyên gia đều cho rằng mục tiêu tăng trưởng 6,2% cho cả năm 2015 hoàn toàn khả thi, thậm chí có thể vượt.




Dự báo kinh tế 6 tháng cuối năm 2015 :
Những yếu tố tích cực :
  • Kinh tế vĩ mô tiếp tục ổn định với CPI thấp dưới 5%.
  • Kinh tế Mỹ và Châu Âu tiếp tục hồi phục giúp tăng trưởng xuất khẩu và thu hút vốn đầu tư
  • Dòng vốn FDI và đầu tư công tăng sẽ tiếp tục tăng góp phần tăng trưởng kinh tế.
Những yếu tố quan ngại :
  • Bội chi NS đã ở mức 5% GDP và nợ công vào khoản 64% GDP sẽ làm ảnh hưởng đến nguồn lực tài chánh của Chính phủ trong phát triển kinh tế.
  • Khu vực SXKD hàng hóa của doanh nghiệp SME vẫn còn khó khăn, tạo ra sức ép về việc làm, cải thiện thu nhập và sức cầu nội địa của người dân.
  • Khu vực nông lâm nghiệp và thuỷ sản tăng trưởng chậm lại, xuất khẩu sụt giảm.
  • Lãi suất có dấu hiệu tăng khi đang chịu sức ép huy động của hệ thống TCTD.
  • BĐS có dấu hiệu dư cung trong giai đoạn sắp tới, và thiếu nguồn tiền đầu tư từ tích lủy và thu nhập của người mua có nhu cầu ở sẽ gây khó khăn cho NHTM.


Với những nhận định trên, mức tăng trưởng kinh tế VN 2015 sẽ vào khoản 6,0 – 6,5% như dự báo của các tổ chức kinh tế thế giới. Tuy nhiên nền kinh tế vẫn còn gặp một số khó khăn phải vượt qua về phát triển việc làm, sức cầu nội địa, cũng như khu vực NHTM vẫn phải đương đầu với xử lý nợ xấu. Ngoài ra cùng với việc đẩy mạnh đầu tư công trong bối cảnh ngân sách vẫn còn bội chi và nợ công cao, khiến Chính phủ gặp sức ép về huy động vốn cân đối ngân sách.

Về ngành nghề, khu vực xuất khẩu sẽ tiếp tục gặp thuận lợi nhờ kinh tế thế giới và chính sách gia tăng hội nhập của VN. Ngành BĐS – XD sẽ tiếp tục tăng trưởng trong giai đoạn 6 tháng cuối năm 2015, nhưng sẽ gặp cạnh tranh với nguồn cung tăng mạnh. Doanh nghiệp SXKD nội địa vẫn còn phải đương đầu với khó khăn về vốn và thị trường.


Tải bài đầy đủ: Kinh tế VN 6T2015 và dự báo 2015


Chú ý: Báo cáo này dựa trên việc tổng hợp báo cáo và nhận định của các Tổ chức Uy tín trong ngoài nước và một số nhận định của nhòm VFA. Báo cáo chỉ có tính cách tham khảo

(VFA group)

24 thg 7, 2015

SSI - Cột mốc thứ 15

SSI - Cột mốc thứ 15
15 năm hoạt động của TTCK Việt Nam cũng là 15 năm hoạt động của CTCK Sài Gòn. Đồng hành cùng TTCK, từ một CTCK có số vốn nhỏ nhất, SSI dần vươn lên trở thành công ty có vốn điều lệ và giá trị vốn hóa lớn nhất thị trường.

Hội nghị Gateway to Vietnam - sự kiện thường niên của SSI là một trong những hoạt động hiện thực hóa sứ mệnh “Kết nối vốn và cơ hội đầu tư”, giúp Công ty trở thành cửa ngõ vào thị trường Việt Nam của các NĐT quốc tế


Từ công ty nhỏ nhất vươn lên lớn nhất
TTCK Việt Nam khai trương hoạt động tháng 7/2000, từ đó đến nay, vai trò của TTCK đối với sự phát triển của nền kinh tế ngày càng lớn. Trong năm 2014, tổng giá trị huy động vốn qua TTCK là 280.000 tỷ đồng, bao gồm: huy động vốn qua trái phiếu 241.000 tỷ đồng, tăng 24% so với năm 2013; huy động qua phát hành cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp ra công chúng và cổ phần hoá 26.000 tỷ đồng, phát hành riêng lẻ hơn 12.000 tỷ đồng. Mức vốn hóa thị trường năm 2014 tăng 11,82% so với năm 2013, tương đương 31% GDP.

TTCK đã trở thành kênh dẫn vốn dài hạn, cùng với kênh ngân hàng góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm tăng trưởng ở mức hợp lý. Nhiều ý kiến đánh giá, nếu như không có kênh chứng khoán, Việt Nam khó có thể đạt mức tăng trưởng GDP năm 2014 là 5,98% và mức tăng 6,11% trong 6 tháng đầu năm 2015.

Đồng hành cùng TTCK Việt Nam, SSI được thành lập ngày 30/12/1999 với số vốn điều lệ ban đầu 6 tỷ đồng, hoạt động với hai nghiệp vụ: môi giới chứng khoán và tư vấn đầu tư chứng khoán. Đến nay, SSI đã triển khai đầy đủ các nghiệp vụ của một CTCK, vốn điều lệ được nâng lên gần 4.300 tỷ đồng.


Nỗ lực kinh doanh được ghi nhận trên bình diện quốc tế
Năm 2014, SSI đạt doanh thu 1.564 tỷ đồng, tăng 115%; lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh đạt 859,9 tỷ đồng, tăng 162% so với năm 2013; Công ty đứng ở vị trí số 1 về thị phần môi giới tính chung trên toàn TTCK. Mặc dù phải đối mặt với áp lực từ thị trường tiền tệ khi lãi suất tiếp tục giảm mạnh, SSI vẫn đảm bảo được hoạt động kinh doanh nguồn vốn, đáp ứng đầy đủ và kịp thời nhu cầu giao dịch ký quỹ của nhà đầu tư.

Lựa chọn những sản phẩm có cấu trúc phù hợp và đầu tư hợp lý, Khối Nguồn vốn và kinh doanh tài chính SSI không những đảm bảo được thanh khoản, mà còn đóng góp tỷ trọng đáng kể trong lợi nhuận chung của Công ty. SSI tiếp tục được vinh danh là Nhà tư vấn tốt nhất Việt Nam và Ngân hàng đầu tư tốt nhất Việt Nam do The Asset và FinanceAsia trao tặng.

SSI cũng đã mở rộng hợp tác với các ngân hàng để tạo ra những sản phẩm hỗ trợ nhà đầu tư vay vốn với chi phí thấp, cơ cấu linh hoạt, phù hợp với hoạt động giao dịch chứng khoán. Công ty Quản lý quỹ SSI (SSIAM) đã đưa ra sản phẩm quỹ mở SSI - SCA và Quỹ ETF SSIAM HNX30, góp phần đa dạng hóa các sản phẩm của SSI, cung cấp thêm cho khách hàng kênh đầu tư mới bên cạnh kênh đầu tư truyền thống vào cổ phiếu. SSIAM tiếp tục giành được những giải thưởng danh giá như giải thưởng Công ty quản lý quỹ tốt nhất Việt Nam 2014 của Tạp chí The Asset, giải thưởng Công ty quản lý quỹ đầu tư tốt nhất Việt Nam 2014 do Tạp chí World Finance trao tặng.

Tháng 6/2015, SSI lần thứ hai nhận được giải thưởng "Nhà môi giới tổ chức tốt nhất Việt Nam" từ Alpha Southeast Asia. Bên cạnh đó, SSI được Forbes Việt Nam bình chọn trong "Danh sách 50 công ty niêm yết tốt nhất".

Với sự linh hoạt và nhạy bén, SSI đã thành công với vai trò là cầu nối vững chắc kết nối nguồn vốn đầu tư tới những doanh nghiệp cần vốn để phát triển.


Hệ thống quản trị và kiểm soát rủi ro được phát triển đồng bộ
Xác định kiểm soát rủi ro và quản trị công ty là một trong những nền tảng để phát triển bền vững, SSI luôn vận hành bộ máy với tôn chỉ minh bạch, hiệu quả, tạo nên nhiều giá trị cho nhà đầu tư, đồng thời linh hoạt thích ứng với những biến động của thị trường. Bên cạnh đó, Công ty chú trọng kiểm soát chi phí, cân đối nguồn vốn, ổn định nguồn tiền, nâng cao tổng tài sản. Năm 2014, lợi nhuận sau thuế trên nguồn vốn chủ sở hữu (ROE) của SSI đạt 13% so với mức 8% năm 2013; lợi nhuận sau thuế trên tổng tài sản (ROA) tăng lên 8,4%; tổng tài sản đạt trên 8.000 tỷ đồng.

Thực tế, SSI đã triển khai một cách đồng bộ và có hệ thống các biện pháp quản trị công ty và quản trị rủi ro từ việc theo dõi, đánh giá, nhận định và dự báo thị trường, đến xây dựng chiến lược đầu tư, hệ thống hạn mức, cảnh báo và quy trình xử lý. Công ty bảo đảm an toàn về quản lý thanh khoản, không phát sinh bất kỳ sự cố rủi ro nào. Song song với đó, một bộ máy hỗ trợ được phối hợp nhuần nhuyễn, có chiến lược cụ thể và nghiệp vụ vững vàng, hạ tầng công nghệ được đầu tư tốt đã đóng góp lớn vào những thành tựu của Công ty. Những nỗ lực của cả bộ máy SSI đã được Asiamoney đánh giá cao và trao giải thưởng "Công ty tốt nhất Việt Nam về quản trị doanh nghiệp năm 2014".


Tiếp tục sứ mệnh kết nối vốn và cơ hội đầu tư
Lãnh đạo SSI chia sẻ, Công ty sẽ tiếp tục đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao chất lượng dịch vụ, đưa ra nhiều giải pháp công nghệ để không ngừng nâng cao thị phần môi giới cũng như phát triển các nghiệp vụ kinh doanh cốt lõi khác. Năm 2015, Công ty đặt mục tiêu tạo lập các kênh phân phối ở nước ngoài để các công ty liên kết có thể giới thiệu và bán sản phẩm của Việt Nam ra thị trường thế giới. Đã đến lúc, SSI nhìn xa hơn để khai thác tối đa lợi thế, hoàn thiện mình theo tiêu chuẩn quốc tế nhằm vươn xa hơn ra những thị trường mới, đóng góp vào sự phát triển chung của nền kinh tế quốc gia.

Theo SSI, nguồn nhân lực vẫn luôn là yếu tố quan trọng mang lại sự khác biệt và tính cạnh tranh cho Công ty. Cơ hội chia đều cho tất cả, nhưng một tổ chức có nguồn nhân lực vững chắc, nghiệp vụ chuyên môn tốtluôn tràn đầy đam mê nhiệt huyết sẽ là tổ chức có nhiều khả năng chớp được cơ hội mới. SSI sẽ tiếp tục tập trung phát triển đội ngũ nhân sự chất lượng cao để sẵn sàng sát cánh, nắm bắt và tận dụng cơ hội.

Quan trọng hơn cả, để đánh giá hiệu quả của một bộ máy, phải thấy được sự phát triển bền vững của bộ máy cũng như khả năng đáp ứng nhanh với những biến động của thị trường. Đây chính là điểm khác biệt mà SSI đã xây dựng trong 15 năm qua. Công ty sẽ tiếp tục theo đuổi trong những năm tới để hướng tới sự phát triển bền vững cho cả bộ máy và các bên liên quan.

Sứ mệnh của SSI được xác định ngay từ khi thành lập đó là "Kết nối vốn và cơ hội đầu tư". Hội nghị Gateway to Vietnam - sự kiện thường niên của SSI là một trong những hoạt động hiện thực hóa sứ mệnh đó, giúp Công ty trở thành cửa ngõ vào thị trường Việt Nam của các nhà đầu tư quốc tế. Tập thể SSI sẽ bằng mọi nguồn lực, tập trung mọi thế mạnh của đội ngũ giàu năng lực hiện có, tối ưu hệ thống công nghệ để thực hiện sứ mệnh đã đề ra. Trong giai đoạn tới, SSI còn rất nhiều việc phải làm, nhiều thử thách cần chinh phục, nhưng với sự ủng hộ và tin tưởng của cổ đông, khách hàng và các đối tác, Công ty tự tin tiếp tục cuộc hành trình để hướng tới những thành tựu cao hơn.



(Theo Đầu tư chứng khoán)

21 thg 7, 2015

Phân kỳ - Lý thuyết và ứng dụng thực tiễn

Phân kỳ - Lý thuyết và ứng dụng thực tiễn
21/07/2015 | 14:57


Phân kỳ (Divergence) là hiện tượng kỹ thuật thường thấy trên thị trường, rất dễ nhận biết và khá hữu dụng nếu dùng đúng cách.


Phân kỳ là gì?
Phân kỳ (Divergence) là tín hiệu xuất hiện khá phổ biến trên thị trường và rất có ý nghĩa  đối với nhà đầu tư theo trường phái phân tích kỹ thuật. Phân kỳ có thể chia làm 2 loại là phân kỳ giá lên (bullish divergence) phân kỳ giá xuống (bearish divergence).
Phân kỳ giá lên là hiện tượng giá liên tục giảm và tạo đáy sau thấp hơn đáy trước (Lower Lows), trong khi đó chỉ báo dao động lại tạo đáy sau cao hơn đáy trước (Higher Lows). Đây là tín hiệu cảnh báo cho thấy xu hướng giảm đang yếu dần và khả năng giá đang hình thành đáy là khá cao.
Phân kỳ giá xuống là hiện tượng giá liên tục tăng và tạo đỉnh sau cao hơn đỉnh trước (Higher Highs), trong khi đó chỉ báo dao động lại tạo đỉnh sau thấp hơn đỉnh trước (Lower Highs). Đây là tín hiệu cảnh báo cho thấy xu hướng tăng đang yếu dần và khả năng giá đang hình thành đỉnh là khá cao.

Các dạng phân kỳ khác
Phân kỳ nhiều đoạn (ba đoạn, bốn đoạn…) là các biến thể của phân kỳ đơn. Chúng xuất hiện khi các phân kỳ đơn lặp lại liên tiếp. Nếu phân kỳ hình thành càng lâu thì những biến động sau đó của giá sẽ càng mạnh
Ngoài ra, thực tế cũng ghi nhận hiện tượng phân kỳ kép khi nhiều khung thời gian (timeframe) khác nhau đều cho phân kỳ tại một điểm. Phân kỳ kép có độ tin cậy cao hơn phân kỳ đơn.

Những lưu ý khi sử dụng phân kỳ
Phân kỳ vốn được coi là tín hiệu cảnh báo (alert signal). Vì vậy, sự xuất hiện của phân kỳ  trong một xu hướng không đồng nghĩa với việc xu hướng đó sẽ kết thúc. Trái lại, phân kỳ có thể tồn tại trong khoảng thời gian khá lâu trước khi xu hướng thực sự thay đổi. Vì vậy, nhà đầu tư nên xem đây như là tín hiệu cảnh báo và nên kết hợp với các công cụ xác định xu hướng như kháng cự/hỗ trợ, trendline, trung bình động… trước khi đưa ra các quyết định đầu tư để đảm bảo tính chính xác và chắc chắn.
Các phân kỳ giá xuống thường xuất hiện bên dưới các ngưỡng kháng cự mạnh. Tương tự, khi giá chạm những vùng hỗ trợ mạnh thì cũng thường hình thành các phân kỳ giá lên.
Một trong những cách sử dụng phân kỳ khác là có thể kết hợp với sóng Elliott. Đơn cử như trong một sóng hiệu chỉnh Zig-Zag thường phân kỳ sẽ xuất hiện giữa sóng A và sóng C với độ tin cậy khá cao. Ngoài ra, sóng 5 cũng thường xuất hiện phân kỳ với sóng 3 trong chuỗi 5 sóng.

Phân kỳ đang xuất hiện trên thị trường
HNX-Index đang hình thành phân kỳ giá xuống với chỉ báo RSI. Do đây là dạng phân kỳ ba đoạn và hình thành ở khá cao nên độ tin cậy lớn. Nếu trong những phiên tới RSI rơi xuống dưới ngưỡng 50 và PSAR cho tính hiệu bán thì rủi ro ngắn hạn sẽ tăng lên mức cao.
VN-Index cũng có nguy cơ hoàn thành phân kỳ với RSI khi mà chỉ số này duy trì trong vùng overbought trong nhiều phiên gần đây. Nếu vùng kháng cự 635-645 điểm vẫn không bị phá vỡ trong những phiên tới thì phân kỳ giá xuống có nhiều khả năng sẽ xuất hiện và rủi ro cũng sẽ tăng lên mức cao.
Phạm Tấn Phát, Phòng Tư vấn Vietstock