31 thg 10, 2015

TESTLA MOTORS VÀ GOOGLE, NHÀ VÔ ĐỊCH "THỔI BONG BÓNG KHINH KHÍ CẦU"

TESTLA MOTORS VÀ GOOGLE, NHÀ VÔ ĐỊCH "THỔI BONG BÓNG KHINH KHÍ CẦU"
(*) Hình minh họa giá cổ phiếu của Tesla Motors, nếu một nhà đầu tư thiếu kinh nghiệm không phát giác ra mà tập trung dùng mô hình phân tích kỹ thuật, thực tế nó vô tác dụng, vì giá cổ phiếu Tesla Motors di chuyển theo chiều tăng ngược chiều của giá dầu. Đây là cách đầu tư rất kinh điển mà không cần quan tâm đến Fed nâng lãi suất, hay kinh tế thế giới suy thoái, hay phục hồi.



TESTLA MOTORS VÀ GOOGLE, NHÀ VÔ ĐỊCH "THỔI BONG BÓNG KHINH KHÍ CẦU"
Trong phiên giao dịch chứng khoán ngày 30/10/2015 trên thị trường New York, khi cả Tesla Motors Inc (NASDAQ: TSLA), Google hay Alphabet Inc Class C (NASDAQ: GOOG), đều sụt giảm trên sàn NASDAQ. Khi chỉ số số chứng khoán lớn thứ 3 của Mỹ là chỉ số NASDAQ, là chỉ số theo dõi đo lường hoạt động của nhiều công ty công nghệ cao giảm 0,40% chốt ở mức 5.053,75 điểm.

Tesla Motors Inc (NASDAQ: TSLA) là một công ty của Mỹ chuyên thiết kế, sản xuất, phân phối ô tô điện và linh kiện cho các phương tiện giao thông chạy điện. Trụ sở chính: 3500 Deer Creek Road, Palo Alto, CA 94.304. Với vốn hóa thị trường 32 tỷ USD trong tháng 1/9/2015, khi giá cổ phiếu còn cao ngất ngưỡng là 249,06 USD/cổ phiếu, hiên đang niêm yết tại sàn NASDAQ, trong tháng 1/2011, giá mỗi cổ phiếu của Tesla Motors chỉ có 23,5 USD.


Trong phiên giao dịch 30/10/2015 giá cổ phiếu của Tesla Motors rơi xuống còn 206,93 USD, vốn hóa bốc hơi 5,26 tỷ USD tính từ đầu tháng 9 cho đến nay, cổ phiếu Tesla Motors bốc hơi 42,13 USD. Một sự mất mát tiền bạc quá lớn nếu các nhà đầu tư thiếu kinh nghiệm không kịp cắt lỗ thoát ra.


Điều gì đã xẩy ra với CEO: Mr. Elon Musk, nhân công 10.161 người của Tesla Motors. Thật không may, giá cổ phiếu của Tesla Motors thường tăng theo hướng ngược với giá dầu, đó là chi phí có lãi để chạy chiếc xe không dùng xăng dầu là khi giá dầu tăng trên 47 USD/thùng, hay cao hơn nữa. Tính từ năm 2010 đên năm 2012, cổ phiếu của Tesla Motors chỉ ở mức 31 USD. Qua năm 2013 giá dầu bắt đầu vọt lên trời. Giá dầu giao theo tháng của dầu thô Brent tại London lên 115,59 USD một thùng. Giá dầu thô WTI Crude Oil (Nymex) tại Bắc Mỹ lên 109,98 USD một thùng, và cứ thế tăng.

Đó là cơ hội cho giới đầu tư giàu kinh nghiệm, để ý, bất chấp suy thoái kinh tế và đồng USD suy yếu, cổ phiếu dầu khí và các hãng xe chạy xăng dầu rơi rụng, vì giá dầu tăng, giới tiêu dùng quay sang đặt hàng mẫu xe của Tesla Motors tiết kiệm nhiên liệu mà sạch. Cổ phiếu của Tesla Motors đã xác lập mức đỉnh của nó khi tăng đến 282 USD vào ngày 20/7/2015, bất chấp thị trường chứng khoán TQ và thế giới giảm sâu, mạc dù giá dầu có hạ. Nhiều nhà đầu cơ đã kiếm được bộn tiền khi chốt lời kịp lúc.

Tuy nhiên, thật bất hạnh, toan tính của giới tiêu thụ rất thực dụng khi người ta dự đoán giá dầu sẽ hạ và sẽ chỉ tăng lại "trong một thời gian dài đáng kể". Nhà tiêu dùng đã chuyển sang xe chạy xăng và dầu vừa tiết kiệm, vừa tiện lợi vì giá dầu rẻ như nước lã. Nhưng với giá cổ phiếu của Tesla Motors là 206,93 USD thì nhà vô địch thổi bong bóng to bằng khinh khí cầu chính là Tesla Motors chứ không phải Facebook (NASDAQ: FB), hay Apple Inc (Dow Jones, NASDAQ: AAPL), Google, tức tên mới Alphabet Inc Class C (NASDAQ: GOOG), mặc dù giá cổ phiếu của Google cao ngất ngưỡng và hiện nay là 710,81 USD, mức đỉnh là 713 USD vào ngày 23/10/2015.

Thực tế đại gia Google, trên sàn NASDAQ, quá nổi tiếng, một công ty tìm kiếm web, cung cấp tìm kiếm, quảng cáo trực tuyến, các hệ điều hành và nền tảng, doanh nghiệp và các sản phẩm phần cứng,...với vốn hóa là 188 tỷ USD trong ngày 1/9/2015, và nay đến ngày 30/10/2015 tăng lên 243,67 tỷ USD, là nhà vô địch có mức tăng mạnh nhất trong gần 2 tháng. Giá mỗi cổ phiếu của Google rơi ở mức 647,82 USD, vào đầu tháng 9, khi Google phải đối mặt với án phạt kiện cáo 1,4 tỷ USD tại Ấn Độ do đơn kiện khiếu nại từ Bharat Matrimony, công ty chuyên mai mối hôn nhân hàng đầu Ấn Độ, và một số công ty khác về vấn đề Google đã cung cấp hiển thị "phơi bày bản đồ quá rõ ràng" về các căn cứ quân sự Trung Quốc, Ấn Độ chiã súng hăm he nhau thuộc vùng biên giới Ladakh, ở Himalayas, nhất là các căn cứ quân sự của TQ, khiến Bắc Kinh tức giận, nhưng biết làm sao được khi Google không còn ở thị trường TQ, hay kể cả phơi bầy lộ liễu về xâm phạm quyền riêng tư khi cung cấp bản đồ "quá rõ ràng trên mức cần thiết",...giá cổ phiếu của Google đã bật tăng lại khi đơn kiện cáo đã qua.

Phương Thơ, Morgan Stanley (NYSE: MS)

30 thg 10, 2015

LIỆU GIÁ VÀNG CÓ TIẾP TỤC RƠI VÀO LÃNH THỔ CON GẤU

LIỆU GIÁ VÀNG CÓ TIẾP TỤC RƠI VÀO LÃNH THỔ CON GẤU

LIỆU GIÁ VÀNG CÓ TIẾP TỤC RƠI VÀO LÃNH THỔ CON GẤU
Không có gì để diễn tả hết sự quyến rũ lấp lánh như vàng, và nó luôn có khoảng 10% trong danh mục của các nhà đầu tư. Vàng có thể được sử dụng như một hầm trú ẩn an toàn chống lại sự lạm phát, hoặc các thị trường chứng khoán giảm giá và các đồng tiền tệ mất giá, và đặc biệt là với đồng USD, hay đồng EUR.

Thật bất hạnh, vàng đang ở mức 1.145,00 USD một ounce so với mức 1.895 USD một ounce vào ngày 05/9/2011. Các chi phí để đào nó ra khỏi mặt đất và đúc ra vàng là từ 500 USD đến 1.000 USD một ounce. Ngày 28/10/2015, vàng chốt ở mức 1.176,10 USD một ounce, vàng tăng được 4,2% tính từ đầu tháng 10/2015. Hiện nay, giá vàng đang rơi về mức cao hơn một chút so với giá vàng của năm 2009, khi tính trung bình cả năm là 1.087,50 USD một ounce, vào lúc suy thoái kinh tế cháy sang Âu châu, khi kinh tế Mỹ vẫn tiếp tục không chắc chắn ra khỏi suy thoái, việc này đã thúc đẩy giá vàng, chạm mức kỷ lục 1.000 USD một ounce vào ngày 20/2/2009, và cứ thế vàng vọt lên trời và rơi vào lãnh thổ con bò Tót.

Hiện nay, tính từ đầu năm cho đến gần hết tháng 10 này, giá trị đồng EUR giảm 12,7% so với đồng USD, và đồng USD cũng đang giảm gần 3,28% so với chính nó. Đồng British Pound (GBP, bảng Anh) đang giảm 4,2% so với USD, yên Nhật-JPY giảm 10,2%, đô la Canada (CAD) giảm 18,5%,...vậy mà cũng không nâng đỡ được giá vàng tăng lại dù rằng giới phân tích quý kim cho rằng vàng đã chạm đáy.

Nhiều nhà phân tích về tài chính và quý kim nói rằng vàng sẽ mất thêm giá trị khi Fed chuẩn bị sẵn sàng để tăng lãi suất trong tháng 12, hoặc đầu năm 2016, nhưng nạn nhân đầu tiên của vàng là Goldcorp (NYSE: GG) là một nhà sản xuất vàng. Công ty được tham gia vào các hoạt động tìm kiếm thăm dò, phát triển và mua lại các tài sản kim loại quý ở Hoa Kỳ, Canada, Mexico, Trung và Nam Mỹ, vốn hóa thị trường 11,7 tỷ USD, là công ty sở hữu mỏ vàng lớn nhất thế giới tính theo giá trị thị trường. Hôm thứ Năm vừa qua, Goldcorp báo cáo thua lỗ quý thứ ba liên tiếp. Mặc dù Goldcorp là một trong những nhà sản xuất vàng với chi phí sản xuất thấp nhất của bất kỳ nhà sản xuất vàng chính trên thế giới. Giá trị cổ phiếu của Goldcorp đã giảm hơn 24,6% so với đầu năm. Đối với SPDR Gold Trust (GLD ) thì mức giảm từ đầu năm đến nay tương đối ít chỉ 2,75%.

Như vậy vàng đã chuẩn bị sẵn sàng để lấy lại giá trị của nó như là một nơi trú ẩn an toàn trong thời kỳ lạm phát tăng cao cùng lãi suất của Mỹ có tăng, nhưng điều đó vẫn có thể đẩy đồng USD xuống thấp. Hiện nay các nhà đầu tư có thể kỳ vọng một sự điều chỉnh ở các thị trường chứng khoán toàn cầu trong những tháng 12 tới khi Fed nâng lãi suất, và khu vực đồng EUR vẫn bất ổn ở Âu châu, hoặc một sự bùng nổ bong bóng thị trường chứng khoán của Trung Quốc cuối năm, thực sự chỉ có một sự điều chỉnh thị trường chứng khoán toàn cầu thì nhiều khả năng sẽ hỗ trợ vàng sẽ tăng lại.

Giao dịch tại thị trường New York chỉ số USDX hoặc U.S. Dollar Index (DXY) tính ra giá trị đồng USD đang ở mức 96,72, tức là đồng USD đang sụt giá 3,28%, và sụt mất 0,29% so với ngày 29/10/2015, vậy mà giá vàng và USD, hay giá dầu, cũng đang sụt theo. Thị trường đầy những toan tính và đang mất phương hướng cho đến hết tháng 12 này, mặc dù dòng tiền chảy vào bắt đáy cổ phiếu các quỹ ký thác vàng, và các công ty khai thác vàng có tăng mạnh hơn so với tháng 9 vừa rồi.


Phương Thơ, Morgan Stanley (NYSE: MS)

VIỆT NAM ĐIỀU CHỈNH

Việt Nam điều chỉnh
(*) Xem hình hiếm có đồng nội tệ nào trên thế giới như đồng nội tệ VND liên tục mất giá tính từ năm 2004 đến gần hết năm 2015, khi trượt giá nó không bao giờ tăng giá lại so với đồng USD.


VIỆT NAM ĐIỀU CHỈNH
Nền kinh tế Việt Nam được sở hữu số dân đông đảo, hễ trên quả đất này có 79 người thì trong đó có một cư dân của Việt Nam, đân số VN số liệu WB công bố năm 2014 lên đến 90,73 triêu cư dân, chiếm khoảng 1,27% dân số địa cầu và trong số đó ở độ tuổi lao đông chiếm tỷ trọng cao.

Trong năm 2014, Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam đã được giá trị 186,20 tỷ USD, tức chỉ chiếm 0,30% của sản lượng GDP nền kinh tế thế giới. Một con số quá ít ỏi với số dân ở độ tuổi lao động quá đông. Trong qua khứ GDP của VN chỉ đạt 6,30 tỷ USD vào năm 1989. Nếu tính trung bình từ năm 1985 đến năm 2014 thì GDP của VN chỉ ở mức 55,42 tỷ USD. Mặc dù đất nước này đã thoát ra khỏi sự tàn phá chiến tranh hơn 14 năm (giai đoàn từ 1975-1899, khi chốt GDP của VN chỉ đạt 6,30 tỷ USD vào năm 1989). Thực tế các nước Á châu đều bị chiến tranh tàn phá, nhưng họ cũng chỉ mất khoảng một thời gian 14 năm hoặc nhiều hơn một chút để vươn lên thành nước công nghiệp hàng đầu thế giới, như Nhật Bản, Nam Hàn, Đài Loan,...

Tất nhiên để vẽ ra sơ lược bức tranh kinh tế của Việt Nam ta lấy cái neo GDP của các nước Đông Nam Á gần Việt Nam nhất, đó là các nước Thailand và Philippines, Malaysia,...Đối với Thailand, dân số 67,22 triệu cư dân, tức là hễ cứ có khoảng 100 người trên thế giới thì có một cư dân của Thái Lan, và dân số Thailand chỉ đại diện 1,01% dân số thế giới. GDP của Thailand cùng giai đoạn như Việt Nam là 373,80 tỷ đô la Mỹ trong năm 2014 (chiếm 0,60% GDP của nền kinh tế thế giới). Philippines có sản lượng kinh tế GDP năm 2014 là 284,58 tỷ USD (chiếm 0,46% sản lượng GDP của kinh tế thế giới), với dân số 100 triệu cư dân (chiếm chiếm 1,37% dân số thế giới, nếu trên trái đất này hễ có 74 người có một cư dân của Philippines). Malaysia dân số 30,40 triệu dân, GDP là 326,93 tỷ USD, chiếm 0,53% GDP của thế giới.

Nền kinh tế Việt Nam được hưởng tốc độ tăng GDP khá cao trong nhiều năm. Tốc độ tăng GDP hàng năm tính trung bình từ năm 2000 đến năm 2015 duy trì ở mức 6,49%, đạt mức cao nhất mọi thời gian là 8,46% trong quý thứ 4 vào năm 2007, mức thấp kỷ lục 3,12% trong quý đầu tiên của năm 2009 khi suy thoái kinh tế thế giới, và Việt Nam gặp khó khăn khi xuất khẩu hàng hóa. Trong quý thứ 3 của năm 2015, GDP ở Việt Nam được mở rộng 6,8% so với cùng quý năm trước, là mức khả quan nhất so với các nước Á châu. Tuy nhiên con số này được báo cáo của Tổng cục Thống kê Việt Nam, nên viêc kiểm kê hoàn toàn có thể thấp, nhưng WB, IMF vẫn thừa nhận và bảo lưu trong sổ sách của họ, tất nhiên thị trường quốc tế và giới đầu tư sẽ đánh giá khác.

Hiện nay mức nợ công của VN đã tăng cao, nếu không muốn nói là cao ngất ngưởng so với các nước Đông Nam Á. Nền kinh tế VN thực tế có mức tăng trưởng cao trong những năm gần đây đó là nhờ vào đầu tư và tăng nợ để đổi ra những con số GDP cao làm hoa mắt quốc tế, nhưng kém phẩm chất. Hiện nay, chính phủ Việt Nam đề xuất phát hành 3 tỷ USD trái phiếu quốc tế để đắp nợ và cứu ngân sách, tuy nhiên với mức năng suất trái phiếu theo yêu cầu của các nhà đầu tư để vay vốn cho chính phủ Việt Nam vay vốn bằng ngoại tệ, và nó phản ánh kỳ vọng lạm phát và khả năng các khoản nợ sẽ được hoàn trả được niêm yết tại thị trường New York lại cao đến 7,05% (thực tế mức này thấp hơn Nga, Indonesia, Brazil,...), nhưng cũng rất khó để nói Việt Nam vay được để có tiền cân bằng danh mục nợ chứ chưa nói là dồn hết 3 tỷ USD vay được đó dùng cho đầu tư.

Nói chung, các nền kinh tế đang phát triển tại Á châu, trong đó nhất là Việt Nam hiện đang rơi vào một vòng luẩn quẩn, mà chủ yếu gánh nợ công quá lớn so với sản lượng GDP và đà tăng trưởng sẽ sút giảm vì đầu tư sẽ ít đi do nợ tăng. Khi đối măt vấn đề này thì gặp bài toán nan giải và bị kẹt giữa lựa chọn là tiếp tục tăng trưởng cao và nâng trần nợ công lên, hoặc hạ tăng trưởng thấp để giảm nợ bằng cách giảm đầu tư công và giảm lương. Nếu bây giờ đưa ra giải pháp là chấn chỉnh chi thu ngân sách bền vững bằng cách giảm chi hay đầu tư và tăng thuế thì lại có vấn đề sẽ làm giảm đà tăng trưởng.

Nếu nâng trần nợ công để kích thích sản xuất và đầu tư cho tăng trưởng bằng cách tăng chi ngân sách thì lại quay về cái thói đi vay và rồi đẩy gánh nợ cho thế hệ sau gánh vác trả nợ. Bởi lẽ một điều phũ phàng, hiện nay Việt Nam nợ nhiều, tăng trưởng GDP cao, nhưng theo báo cáo của Markit Economics thì PMI sản xuất tại Việt Nam trong tháng 9, giảm xuống còn 49,50, thấp hơn tháng 8/2015 là từ 51,30, nhưng tỷ lệ tăng trưởng GDP lại cao đên 6,8%. Mặc dù chỉ số PMI sản xuất tại Việt Nam tính trung bình từ năm 2012 cho đến năm 2015 luôn đạt 50,70. Mức cao nhất là vào tháng 5/2015 là 54,80, và mức thấp kỷ lục vào tháng 7/2012 là 43,60.

Đây là mức chênh lệch PMI của VN so với nước khác lại khá thấp nhưng lại có mức tăng trưởng GDP cao. Nếu con số không tăng GDP cao như thực tế thì rõ ràng áp lực trả nợ lại rất lớn và dòng tiền sẽ ít đi dùng cho đầu tư thì làm sao mà mơ thành nước công nghiệp cơ bản đến năm 2020 được.

Thực tế Việt Nam là một nền kinh tế đang phát triển trong khu vực Đông Nam Á, và quốc gia này cũng là một trong những nhà sản xuất dầu lớn nhất trong khu vực Đông Nam Á, nhưng giá dầu không rẻ chút nào nếu so sánh giá xăng bán lẻ tại Malaysia chỉ có 0,44 USD / lít, so với mức bán tại VN lên đến 0,79 USD / lít trong tháng 9/2015, mặc dù giá dầu trên thế giới đã sụt giảm gấp đôi giá trị của nó.

Trong vài năm qua, mặc dù nền kinh tế VN dựa vào xuất khẩu đã tăng rất mạnh, chủ yếu đến từ mức lương rẻ và chi phí thấp để thúc đẩy đầu tư trực tiếp từ nước ngoài và mở rộng xuất cảng sang thị trường Mỹ chiếm đến 18% của tổng kim ngạch xuất khẩu, nhưng VN chỉ xuất khẩu sang TQ lại thấp hơn cả Nhật là chỉ chiếm 11%, nhưng lại nhập khẩu chính từ Trung Quốc chiếm đến 28% của tổng nhập khẩu. Nhưng thực chất xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là làm gia công cho thiên hạ. Đó là một công thức đơn giản dẫn đến sự phát triển kinh tế thiếu lành mạnh của Việt Nam, bởi nền kinh tế Việt Nam thực chất là bán hàng giùm TQ.

Nền kinh tế VN dựa vào xuất khẩu nông sản chiếm tỷ trọng lớn. Các sản phẩm chủ lực của Việt Nam là: gạo, hạt điều, hạt tiêu đen, cà phê, chè, các sản phẩm thủy sản và cao su. Tuy nhiên, hiện nay những sản phẩm này đang bị tồn động và giảm giá mạnh trên thị trường quốc tế, đó là sự khó khăn của VN. Trong lĩnh vực công nghiệp chủ yếu sản xuất gia công như lĩnh vực công nghệ thông tin và điện tử, viễn thông,...nhưng lại xuất khẩu hộ cho các doanh nghiệp nước ngoài là chủ yếu, vì năng lực nội địa hóa của VN rất kém.

Với chỉ tiêu đề ra của Thủ tướng VN là GDP năm 2015 sẽ đạt khoảng 204 tỷ USD, thu nhập bình quân đầu người 2.228 USD. Còn GDP bình quân đầu người PPP thu được bằng cách chia tổng sản phẩm quốc nội của quốc gia, được điều chỉnh bởi sức mua tương đương, bởi dân số là trên 5.600 USD, tức là bám sát Philippines với 6.597 USD, Thailand là 13.986 USD (năm 2014),...nếu duy trì mục tiêu đặt ra thì chỉ cần 7 năm sau VN sẽ bằng Philippines, đó là điều không tưởng, bởi mức nợ của Việt Nam hiên tăng quá cao so với tiềm lực kinh tế các nước trong khu vực.

Sẽ hoàn toàn không có cơ sở để so sánh, bởi Philippines tuy họ là một nước yếu, nhưng lại có dự trữ ngoại hối trong tháng 9/2015 lên đến 80,5 tỷ USD, dự trữ vàng 195 tấn, nợ chính phủ theo phần trăm GDP chỉ khoảng 47,6% đến hết tháng 9 này,....các nước khác cũng thấp hơn về tỷ lệ nợ, và lãi suất vay ngân hàng cũng thấp do tỷ lệ nợ của họ thấp. Nếu nhìn vào sự thật rõ ràng VN phát triển kinh tế rất bong bóng không bền vững và đồng tiền luôn bị trượt giá, việc này khiến dân chúng tích trữ vàng, USD,...làm nền kinh tế không huy động được vốn nội lực trong nước mà phải đi vay tiền từ WB, ADB, IMF, và các nước cấp viện, với vốn rẻ nhưng cũng đã đi hết chu kỳ vay tiền rẻ, và quay lại chủ kỳ trả nợ, bây giờ nếu vay nợ thì phải vay lãi trên thị trường tài chính nên áp lực trả lãi rất cao.

Việc này, nền kinh tế Việt Nam sẽ phải bắt buộc điều chỉnh, và Việt Nam cần phải thật sự nỗ lực cải tiến năng suất lao động nếu muốn duy trì thành quả tăng trưởng cao như trước đây và có lời thì phải nâng tối đa tỷ lệ nội địa hóa sản phẩm mới tích luỹ được tư bản để trả nợ và giảm nợ công xuống mức hợp lý thì tất cả các lãi vay sẽ tự điều chỉnh giảm xuống.

Phương Thơ, Morgan Stanley (NYSE: MS)

29 thg 10, 2015

USDX CÓ VƯỢT QUA MỐC CHẶN TÂM LÝ 100 KHÔNG?


Mặc dù Fed hoãn nâng lãi suất trong tháng 10 này, đồng USD được dự báo đang héo úa, nhưng thực tế nó chỉ giảm rất ít. Trong phiên giao dịch 29/10 tại New York, đồng USD đã bò dần lên mức 97,70, sau đó 2 tiếng đồng hồ sau thì rơi lại mức 97,56. Đối với giá trị đồng đô la Mỹ, người ta thường đo nó với các ngoại tệ chính qua một chỉ số gọi là (USDX, DXY). Theo đó, đồng USD được định giá qua một rổ tiền gồm sáu loại ngoại tệ chính của các ngoại tệ trong rổ tiền là đồng Euro (EUR), Yên Nhật (JPY), Bảng Anh (GBP), đồng đô la Canada (CAD), Krona Thụy Điển (SEK), Franc Thụy Sĩ (CHF).

Chỉ số USDX hoặc U.S. Dollar Index (DXY) bắt đầu ở mức ở mức chuẩn 100 vào tháng 3 năm 1973. Do đó, giá trị hiện tại USDX cho biết phần trăm thay đổi của đồng USD. Các chỉ số USDX là một chỉ số so sánh đồng USD với rất nhiều đồng tiền khác nhau như đã nói ở trên. Điều này khác với tất cả các tỷ giá hối đoái, trong đó so sánh chỉ có hai đồng tiền tại một thời điểm. Nếu tính trung bình từ năm 1973 đến năm 2015 thì chỉ số U.S. Dollar Index này ở mức 97,30. Đồng USD đang cao hơn mức trung bình của nó. Trong quá khứ thì chỉ số DXY này từng tăng lên 164,72 vào tháng 2/1985, và mức thấp kỷ lục là 71,32 vào tháng 4/2008.

Thật bất hạnh, dầu thô, vàng sẽ tiếp tục rơi vào lãnh thổ con Gấu cho đến hết tháng 12/2015. Nếu USDX vượt qua mốc chặn tâm lý 100, một sự hoảng loạn dẫn đến việc các thị trường Á châu sẽ đồng loạt điều chỉnh lãi suất.

Phương Thơ, Morgan Stanley (NYSE: MS)

28 thg 10, 2015

TOO BIG TO FAIL CỦA BỐN "ÔNG KẸ" NGÂN HÀNG MỸ

TOO BIG TO FAIL CỦA BỐN "ÔNG KẸ" NGÂN HÀNG MỸ
(*) Giao dịch ngày 27/10/2015, giá cổ phiếu của Bank of America Corp (NYSE: BAC) chốt ở mức 16,40 USD, giá đỉnh cao gần nhất là ngày 22/7/2015, khi tăng gần 18,50 USD, tức 18,46 USD(hình vẽ).


TOO BIG TO FAIL CỦA BỐN "ÔNG KẸ" NGÂN HÀNG MỸ.
Trong bốn con người ẩn danh ít ai chú ý, thay vì người ta tập chung nói về các tỷ phú USD, họ mới là những người đang điều hành và giữ hộ tiền ký thác để kinh doanh mang lợi nhuận cho khách hàng và cho nhiều cá nhân, doanh nghiệp, các chính phủ các nước vay tiền, đó là những con người gồm: CEO: James S. Dimon (JPMorgan Chase & Co), Mr. Brian T. Moynihan (Bank of America), Mr. John G. Stumpf (Wells Fargo & Co), Citigroup (Mr. Michael L. Corbat), họ quản lý 857.959 người ưu tú của lĩnh vực ngân hàng, với tổng số vốn hóa 847 tỷ USD, và bốn con người này đang quản lý hàng trăm triệu tài khoản của cả tỷ người khắp nơi trên thế giới.

Thật kinh ngạc, họ mới là những con người bất hạnh "bơi trong biển tiền",...quản lý cả tỷ trương mục tài khoản khắp nơi trên thế giới. Đến ngày 31/12 cuối năm nay, toàn bộ hệ thống ngân hàng Mỹ sẽ công bố toàn bộ sổ sách sẽ có nhiều bi kịnh lẫn hào quang nếu Fed không nâng lãi suất cơ bản "Fed Funds Rate".

Bốn ngân hàng có thế mạnh của Mỹ hiện nay thuộc về JPMorgan Chase (NYSE, Dow Jones: JPM), Wells Fargo (NYSE: WFC), Bank of America Corp (NYSE: BAC), Citigroup Inc (NYSE: C). Tổng cộng, bốn ông kẹ này kiểm soát 42,4% tài sản ngân hàng Mỹ, họ quản lý và kiểm soát số tiền lên đến 15,75 ngàn tỷ USD trong toàn hệ thống ngân hàng. Con số này gần đây giảm đi đáng kể so với quý đầu 1 của năm 2015, khi đó bốn ông kẹ ngân hàng Mỹ này kiểm soát từ 44,5% so với cùng quý của năm trước. Tổng tài sản cho bốn ngân hàng lớn nhất đã giảm 126,4 tỷ USD trong quý thứ 2 của năm 2015.

JPMorgan Chase trong quý 1 năm 2014, kiểm soát 14,3% tổng tài sản lớn nhất trong hệ thống ngân hàng Mỹ, sang quý 1 của năm 2015 chỉ còn 14,2%. Hiện nay, JPMorgan Chase kiểm soát khoảng 13,5% tổng tài sản lớn nhất trong hệ thống ngân hàng Mỹ, là khoảng 2,13 ngàn tỷ USD, thấp hơn so với mức trung bình của năm 2014, khi JPMorgan Chase kiểm soát đến 2,6 ngàn tỷ USD.

Bank of America kiểm soát 10,3% tổng tài sản của hệ thống ngân hàng, hiện nay Bank of America kiểm soát và quản lý đến 1,63 ngàn tỷ USD. Thực tế sau nhiều năm Bank of America là một trong những tổ chức tài chính lớn nhất trên thế giới là tập đoàn ngân hàng lớn thứ hai tại Mỹ dựa trên tổng tài sản. Hoạt động của Bank of America bắt đầu từ hơn 100 năm trước đây với sự thành lập của Ngân hàng Italia tại San Francisco bởi Amadeo Giannini. Sau khi sáp nhập tiếp theo với Ngân hàng Liberty của Mỹ, trong những năm sau đó, công ty đã lấy tên Bank of America vào năm 1930.

Trong hết quý thứ 3 của năm 2015, Giám đốc điều hành Brian Moynihan của Bank of America cho biết doanh số giao dịch trong 3 tháng qua giảm 5% đến 6% so với năm trước, mặc dù giao dịch chứng khoán có tăng. Trong quý 2, lợi nhuận lãi ròng JPMorgan và Bank of America là 2,09% và 2,37%, tương ứng, giảm từ 3% và 2,87% vào cuối năm 2008.

Bank of America là tập đoàn ngân hàng đầu tư dàn trải, cho vay nhiều lĩnh vực nên Bank of America bị ràng buộc bởi các quy định của liên bang, tiểu bang và địa phương nhiều và cơ quan giám sát của nó bao gồm Cục Dự trữ Liên bang, Tổng công ty Bảo hiểm tiền gửi Liên bang và Cục Bảo vệ người tiêu dùng tài chính. Các quy định quan trọng nhất liên quan đến Bank of America là Đạo luật Gramm-Leach-Bliley Act, theo luật này, các tập đoàn tài chính không khác gì tập đoàn ngân hàng.

Cụ thể rõ ràng hơn, họ cho phép các tập đoàn tài chính, ngân hàng, hoặc các công ty phi tài chính,...được nhận tiền ký gửi ký thác của công chúng và cho vay, hoặc phát hành cổ phiếu và buôn bán chứng khoán, nó cũng là một phần của nguyên nhân gây ra khủng hoảng tài chính năm 2007-2008. Bank of America còn nằm dưới sự kiểm soát của Đạo luật Dodd-Frank Wall Street và Đạo luật Bảo vệ người tiêu dùng và Luật Công ty Bảo hiểm tiền gửi Liên bang.

Wells Fargo của tỷ phú Warren Buffett sở hữu nhiều cổ phần hiện kiểm soát 10% tổng tài sản trong hệ thống ngân hàng, giảm 1,1% trong quý 2, hiện Wells Fargo kiểm soát khoảng 1,58 ngàn tỷ USD. Trong năm 2014, Wells Fargo kiểm soát đến 1,7 ngàn tỷ USD, và cho vay ra 863 tỷ USD, nhận tiền ký thác, tức tiền gửi là 1,2 ngàn tỷ USD.

Citigroup kiểm soát 8,5% tổng tài sản của hệ thống ngân hàng, con số này hầu như không có thay đổi nào đáng kể. Citigroup hiện đang quản lý và kiểm soát 1,34 ngàn tỷ USD. Citigroup hiện có khoảng 200 triệu tài khoản khách hàng và kinh doanh tại hơn 140 quốc gia.

Chúng ta không tính những ngân hàng đầu tư khổng lồ như như Goldman Sachs (NYSE: GS), Morgan Stanley (NYSE: MS), hoặc những ngân hàng thương mại trung bình US Bancorp (NYSE: USB), Bank of New York Mellon Corp (NYSE: BK),...

Trong năm ngoái năm ngân hàng lời lãi nhất Phố Wall lại là: Bank of America, Citigroup Inc, JPMorgan Chase & Co, Goldman Sachs, Morgan Stanley, những ngân hàng này đã tạo ra lợi nhuận 73,7 tỷ USD tài sản từ kinh doanh, trong đó khoảng 2/3 số đó lại đến từ thu nhập cố định, chỉ 1/3 đến từ thu nhập chứng khoán, nhưng số tiền bị phạt cũng hơn 1/2 số tiền lời vì nhiều hình thức như thao túng công cụ lãi suất suất LIBOR, tháo túng các công cụ tài chính và chứng khoán phái sinh,...

Phương Thơ, Morgan Stanley (NYSE: MS)

QUỸ ĐẦU TƯ "HEDGE FUND" CƠN ÁC MỘNG CỦA CÁC QUỐC GIA VAY NỢ

QUỸ ĐẦU TƯ "HEDGE FUND" CƠN ÁC MỘNG CỦA CÁC QUỐC GIA VAY NỢ


QUỸ ĐẦU TƯ "HEDGE FUND" CƠN ÁC MỘNG CỦA CÁC QUỐC GIA VAY NỢ

Kể từ khi vụ suy thoái kinh tế toàn cầu vào năm 2008-2009, tại Mỹ rồi lan rộng ra thế thế giới, thì giới đầu tư bắt đầu chú ý đến quỹ đầu tư "Hedge Fund", chẳng hạn như kiểu quỹ đầu tư Elliott Associates LP, và Elliott International Limited (Paul Singer), mà Argentina bị lâm nạn vào 31/07/2014, khi "mất khả năng thanh toán" đến 1,5 tỷ USD, bao gồm các khoản lãi, cũng như các Hedge Fund khác lại nổi danh với biệt tài vượt bên ngoài tầm kiểm soát của các giới chức am hiểu về tài chính ở trong nước Mỹ cũng như thế giới. Qũy đầu tư "Hedge Fund" với biệt tài khiến họ có nổi danh của loại hình đầu tư "dã thú" là chuyên đi săn tìm mua giấy nợ trái phiếu với giá rẻ từ loại các doanh nghiệp sắp phá sản hay các chính quyền sắp vỡ nợ đã lỡ vay tỷ USD mà xin giảm nợ chỉ muốn trả có vài chục triệu USD thôi.

Qũy đầu tư đối xung, hay đối trọng có lẽ là cơn ác mộng cho bất cứ quốc gia nào gặp phải các Hedge Fund như vậy, vì họ sẽ kiện cho bằng được để lấy lại nguyên giá của giấy nợ cộng thêm tiền lãi và phí tổn khác. Nên người ta hơi cực đoan quá trớn và gán cho các Hedge Fund này là các "quỹ đầu cơ kền kền", là "chuyên đi ăn xác thối" của con nợ sắp phá sản.

Thưc tế các quỹ đối xung này có những đặc điểm như sau: Cụ thể, số tiền đầu tư của những quỹ đối xung này rất lớn, thường lên đến hàng trăm triệu USD hay cả tỷ USD, nên, chỉ có ai có thật nhiều tiền mới đầu tư vào loại quỹ này. Qũy Hedge Fund này không xác định rõ mục tiêu như quỹ hỗ tương "Mutual Funds", là chủ yếu đầu tư vào cổ phiếu cho khách hàng (hưởng phí quản lý). Người điều hành quỹ Hedge Fund này họ có thể quyết định đầu tư phần lớn vào cổ phiếu, đồng thời cũng đầu tư vào một ít trái phiếu, rồi nếu tìm thấy bất cứ một cơ hội nào mà họ có thể thấy lời cao thì họ lại bỏ tiền đầu tư vào cơ hội đó, họ sẳn sàng rút tiền khỏi chỗ đang đầu tư cũ, nên gọi đúng hơn là quỹ đầu tư chống rủi ro chứ không nên gọi nó là "quỹ đầu cơ kền kền" là không đúng.

Hiểu đúng hơn là các Hedge Fund dựa vào đầu tư đối trọng giữa cái may và cái rủi. Tức là, khi họ đang đầu tư vào một việc gì thì họ tìm cách đầu tư vào một việc khác để nó giảm rủi ro của việc họ đang làm. Họ đang đầu tư vào đâu thì họ lại mua một đầu tư khác để giảm bớt rủi ro của món đầu tư cũ, thì đó có nghĩa là "Hedge", và dịch là quỹ đối xung, có lẽ thích hợp nhất. Những người điều hành quỹ Hedge Fund này họ cực kỳ giỏi về luật lệ kinh doanh, họ am hiểu rất sâu rộng về kinh tế, cũng như đầu tư chứng khoán. Khi họ tung đơn kiện ai thì hay chính quyền nào lỡ vay tiền mà đòi xù nợ thì rất khó thắng họ, cho nên các chính quyền đó lỡ vay tiền thì nên giữ kín và thận trọng thương thuyết mà trả nợ khéo, họ cũng không cần quan tâm đến cảnh báo của các tổ chức xếp hạng tín dụng như Standard & Poor’s, Moody's và Fitch Ratings về các doanh nghiệp hay các chính phủ các nước về rủi ro không có khả năng trả nợ.

Chẳng hạn, lấy thí dụ như trường hợp của Venezuela một quốc gia có trữ lượng dầu mỏ rất lớn, là gần đây nhất khi cả Standard and Poor's, lẫn Moody's, Fitch xuống cấp trái phiếu của quốc gia này ở mức "cực đoan" ở mức CCC (negative - tiêu cực) vì quốc gia này vay nợ ngoại tệ quá mức, mà nguồn thu duy nhất từ dầu khí lại bị sụt giá. Xếp hạng tín dụng của Venezuela khi giá dầu trước kia trên 100 USD/thùng thì duy trì ở mức trung bình yếu là BBB (dấu trừ, tiêu cực), giới đầu tư cho Venezuela vay tiền với lãi tương đối vừa phải bởi khả năng trả nợ của Venezuela không tệ cho lắm nếu giá dầu thô cứ tiếp tục duy trì trên 100 USD/thùng.

Việc các tổ chức xếp hạng tín dụng xuống cấp trái phiếu ngắn và dài hạn của Venezuela khiến lợi trái phiếu của Venezuela trả lãi đắt, giới đầu tư lo sợ Venezuela mất khả năng thanh toán vì giá dầu hạ quá thấp thì lấy đâu ra tiền ra trả nợ nên họ bán tháo trái phiếu của Venezuela khiến cho lợi suất trái phiếu của quốc gia này nó mới tăng. Việc đầu tư vào trái phiếu, khi giá và năng suất của trái phiếu biến động, do đó, thời gian của nó kiếm lời bị tác động. Chẳng hạn năng suất giảm xuống, thời gian kéo dài, khi năng suất tăng lên, thời gian rút ngắn nhưng gặp rủi ro dù được trả tiền lời cao mà mất nợ tiền gốc cũng cao.

Thông thường giới đầu tư lo sợ Venezuela không có khả năng trả nợ nên đòi lãi cao, nhưng họ vẫn sợ mất nợ cả tiền gốc, nên những chủ nợ này rất lo lắng. Giả sử một nhà đầu tư làm chủ 5 ngàn trái phiếu của Venezuela, mỗi trái phiếu trị giá 100 ngàn USD. Như vậy, Venezuela nợ họ tới 500 triệu USD. Những chủ nợ này lo lắng Venezuela sẽ không còn tiền trả nợ nếu tình trạng công nghệ sản xuất dầu hỏa của Venezuela lạc hậu và giá dầu sụt giá dưới 50 USD như hiện nay. Các chủ nợ này liền rao bán là họ có những trái phiếu của Venezuela mỗi cái trị giá 100 ngàn USD nhưng họ chỉ bán với giá chỉ có 70 ngàn USD thôi, và khi tình hình rủi ro quá, họ có thể hạ xuống còn 50 ngàn USD chẳng hạn, với lãi suất công trái 10 năm của Venezuela tuy hấp dẫn tiền lời là 15%.

Đây là cơ hội đặc biệt cho các Hedge Fund đánh cược, họ mặc cả mua những trái phiếu của chính phủ Venezuela phát hành với giá chỉ còn 50 ngàn USD, họ mua cả chục ngàn trái phiếu của Venezuela với giá rẻ mà nhà đầu tư kia bán lại, vì các Hedge Fund vẫn tin rằng tuy Venezuela bị đánh sụt mức tín nhiệm về các khoản nợ, nhưng khả năng trả nợ của Venezuela rất tốt nếu giá dầu thô sẽ tăng trong thời gian không xa, tệ lắm cũng trên 90 USD/thùng chứ không bao giờ giảm dưới mức đó nữa. Đó là sự tính toán rất kỹ, và phân tích dữ kiện kinh tế, các thị trường tài chính, giao dịch hàng hóa, cũng như các thị trường cổ phiếu chứng khoán liên quan đến dầu khí và nền kinh tế Venezuela.

Tuy nhiên, nếu không may Venezuela mất khả năng trả nợ vì kinh tế suy thoái do giá dầu liên tục sụt giảm, trái phiếu của Venezuela thành "junk bond" hay "giấy lộn", hay như trương hợp Argentina bị "vỡ nợ kỹ thuật một phần" khá rắc rối này, thì các Hedge Fund này lỗ nặng là mất trắng hết tiền, dù có kiện cáo thì cũng không đòi được tiền, vì khi con nợ tuyên bố phá sản hoàn toàn, bị đuổi khỏi thị trường tài chính thì còn kiện ai nữa.

Thực tế các Hedge Fund sẽ giàu lên rất nhanh nếu kinh tế Venezuela bật dậy và tăng trưởng mạnh mẽ trong những năm tới nhờ khả năng cải thiện hạ tầng cơ sở sản xuất dầu hỏa hay giá dầu tăng vọt khi Venezuela thanh toán được nợ, và các Hedge Fund lấy được cả vốn gốc lẫn lãi mỗi trái phiếu trị giá 100 ngàn USD, tức là họ lời gấp đôi, chưa tính tiền lãi.

Một thí dụ khác cho sự đánh cược đầu tư thành công của các Hedge Fund, một thí dụ cụ thể đơn giản. Chẳng hạn, trong 30 đại công công ty nổi tiếng nhất nước Mỹ của chỉ số Dow Jones, tổ hợp chế tạo xe hơi General Motors Company (NYSE: GM), sau một thế kỷ làm thống lĩnh ngành công nghiệp xe hơi thế giới, ngày 30/4/2009, General Motors tuyên bố vỡ nợ khi tài sản chỉ còn hơn 82 tỷ USD mà nợ tới gần 173 tỷ USD và không thể thanh toán cho giới đầu tư. General Motors bị loại khỏi sàn Dow Jones và thay thế bằng Cisco Systems Inc (Dow Jones, NASDAQ: CSCO), là hãng công nghệ tin học điện tử thông tin tại vùng Thung lũng Silicon ở miền Bắc California.

Tháng 11/2010, GM làm "mới cổ phiếu" bằng việc chào sàn hay IPO khi bán 478 triệu cổ phần giá 33 USD, thu được 15,8 tỷ USD, trước đó trong những ngày đầu hoảng loạn, nhiều nhà đầu tư bán tháo cổ phần và trái phiếu của GM với giá hời chỉ bằng 1/2 giá trị thật, tất nhiên sau này GM thoát nạn và trả tiền sòng phẳng cho chủ đầu tư, tất nhiên chủ đầu tư hay chủ nợ đó lại không phải giới đầu tư trước đây, mà lại là các Hedge Fund sở hữu.

Lẽ tất nhiên, những người bỏ tiền đầu tư vào những qũy Hedge Fund này hoàn toàn tin tưởng nơi những người quản lý của các quỹ đó và họ thường đặt những số tiền cả trăm triệu hay cả tỷ USD vào quỹ. Trong cuộc khủng hoảng tài chính và tín dụng tại Mỹ năm 2008-2009 có rất nhiều Hedge Fund lỗ rất nặng vì đánh cá lầm khi rất nhiều cổ phiếu, trái phiếu mà họ mua vào biến thành "giấy lộn", bởi sự phá sản hàng loạt ngân hàng tại Mỹ cũng như một số con nợ là quốc gia có những món nợ công không trả được nợ mà các quỹ Hedge Fund đã lỡ mua hay cho vay bạc tỷ USD nhưng chỉ đòi được bạc triệu USD nhờ tiền lãi cao, còn tiền nợ gốc họ buộc phải thương thảo để xóa nợ có khi là đến 90%, và thời gian trả lại rất lâu.

Năm 2008 - 2009 tổng số tiền đầu tư vào những quỹ Hedge Fund này lên tới khoảng 2.700 tỷ USD, bây giờ giảm xuống chỉ còn vào khoảng 2.000 tỷ USD. Thực tế là cái tên Hedge Fund nguyên thủy của nó mang ý nghĩa là đầu tư làm sao để tránh bớt rủi ro, các Hedge Fund không mạo hiểm bỏ "tất cả trứng vào một giỏ" (all your eggs into one basket). Chẳng hạn, họ đầu tư vào cổ phiếu, trái phiếu đồng thời đầu tư luôn cả vào nhiều chứng khoán, hay các loại tài sản khác như dầu thô, vàng,... để phòng hờ cổ phiếu xuống thì có những thứ khác như vàng hay USD,...tăng giá để vớt vát lại, nhằm giảm thiểu rủi ro, nên loại qũy Hedge Fund này mới có tên là quỹ đầu tư đối xung và bị gán cho cái tên là "quỹ kền kền" là hơi cực đoan.

Bây giờ tên gọi Hedge Fund này không còn mang nghĩa đó nữa, mà những qũy này chỉ đi tìm những cơ hội thật lớn để kiếm lời thật cũng thật lớn mà họ cũng không quan tâm đến chuyện mong kiếm lời thật nhiều thì cũng có thể gặp rủi ro lớn và mất tiền nhiều như trước kia nữa. Hiện nay, giao dịch dầu thô thì các Hedge Fund này đánh cá rất lớn, họ có xu hướng đánh cá giá tăng chứ không giảm, nên giá dầu hạ vừa rồi các Hedge Fund này tại Mỹ lỗ lớn khoảng 27 tỷ USD về dầu thô, nhưng họ cũng lời lớn về chứng khoán,...

Phương Thơ, Morgan Stanley (NYSE: MS)

27 thg 10, 2015

Phân tích kỹ thuật giá Dầu thô WTI trong ngắn hạn

Giá dầu thô WTI Crude Oil (Nymex) tại Bắc Mỹ suýt phá đáy của nó khi rơi về mốc 43,48 USD/thùng trong phiên giao dịch đang diễn ra 27/10/2015. Giá đáy thấp nhất là 38,24 USD/thùng vào ngày 24/8/2015. Ngân sách thu từ dầu của VN xem như phá sản, nếu giá dầu xê dịch dưới 45 USD/thùng. Với mức dầu hạ như thế này chỉ Saudi Arabia mới khai thác có lời một chút.

Dầu thô WTI

Phương Thơ, Morgan Stanley (NYSE: MS)

26 thg 10, 2015

QUANTITATIVE EASING (QE) VÀ LÃI SUẤT TRUNG QUỐC

QUANTITATIVE EASING (QE) VÀ LÃI SUẤT TRUNG QUỐC
(*) Hiện nay tỷ giá USD/CNY cho thấy 1 USD = 6,38800 CNY, và trước đó là sự phá giá đồng CNY do PBOC thực hiện mấy tháng vừa qua (xem hình)


QUANTITATIVE EASING (QE) VÀ LÃI SUẤT TRUNG QUỐC
Việc các ngân hàng trung của các nền kinh tế thế giới dùng biện pháp "lỏng định lượng" (Quantitative Easing - QE). Biện pháp này là tuyệt vọng và là biện pháp cuối cùng khi lãi suất tiến về số không, hay lãi suất âm so với lạm phát, khi lãi suất hạ tới đáy mà doanh nghiệp và dân chúng cũng không muốn đi vay. Thực tế, biện pháp QE này do Nhật mới là nước đầu tiên sử dụng nới lỏng định lượng, họ áp dụng nó từ năm 2002 -2006. Nó được tái khởi động lại vào năm 2012, với việc bầu cử Shinzo Abe làm Thủ tướng.

Trong năm 2015, ECB, tức Ngân hàng Trung ương châu Âu của khối kinh tế Eurozone của 19 nước thành viên sử dụng chung đồng EUR bắt đầu thông qua nới lỏng tiền tệ của họ, sau 7 năm thắt chặt chi tiêu bằng các biện pháp thắt lưng buộc bụng khắc khổ để giảm nợ do thâm thủng ngân sách. ECB sẽ tung ra mỗi tháng mua 60 tỷ EUR trái phiếu, hay mua chứng khoán của các doanh nghiệp, hoặc các ngân hàng các nước được niêm yết bằng đồng EUR, làm giảm giá trị của đồng EUR, nhằm khuyến khích dân chúng chi tiêu mạnh hơn nữa vì đồng EUR giảm giá cũng như sẽ làm tăng xuất khẩu nhờ đồng tiền yếu, vì vậy hàng hóa các nước khối kinh tế Eurozone dễ cạnh tranh hơn. Điều phũ phàng là ECB đã vô tình gây khó khăn cho Trung Quốc bằng biện pháp QE này, khiến hàng hóa Trung Quốc bị mất thị phần tại Âu châu và các nước châu lục khác, như Trung Đông, Mỹ Latinh, kể cả châu Á,...và việc Trung Quốc gặp hoạn nạn hiện nay do một phần khối kinh tế Eurozone tác động vào Trung Quốc.

Trước đây, đồng EUR tăng giá cao, và giai đoạn từ năm 2002-2007, thì đồng USD giảm 40% so với đồng EUR. Khi ấy EU hay cả các nước khối kinh tế Eurozone là khách hàng mua hàng hóa nhiều nhất từ Trung Quốc, và TQ lấy thặng dư thương mại này tung tiền mua trái phiếu kho bạc Mỹ, cộng thêm Nhật nữa, cùng các doanh nghiệp, giới đầu tư tích trữ USD để phòng ngừa đồng EUR bị bán tháo bằng nhiều hình thức, kể cả trái phiếu kho bạc do ECB phát hành, khi khối Eurozone bắt đầu bị thâm thủng ngân sách vì nhập khẩu nhiều hơn xuất khẩu, điều này khiến đồng USD tăng mạnh lên 22% so với đồng EUR. Việc này, dẫn đến Mỹ lại là khách hàng nhập khẩu của Trung Quốc nhiều hơn bất cứ quốc gia nào. Đến tháng 3/2015, như đã phân tích về QE của ECB áp dụng, tỷ giá đồng USD so với đồng EUR đã giảm xuống mức thấp kỷ lục khi chỉ còn 1 EUR = 1,05 USD, tuy nhiên trong tháng 5/2015, đồng EUR tăng tới 1 EUR = 1,13 USD.

Đối với Mỹ, mà tâm điểm là các gói QE được thị trường tài chính thế giới phân tích nhiều nhất: Nói chung, biên pháp QE này chỉ thực hiện được khi lãi suất cho vay hạ tới 0%, hoặc âm rồi mà doanh nghiệp vẫn không dám đi vay thì Ngân hàng Trung ương Mỹ tung ra biên pháp bất thường gọi là chính sách "nới lỏng định lượng" (Quantitative Easing - QE). Cụ thể: QE1 (tháng 12/2008 - tháng 6/2010), QE2 (tháng 11/2010 - tháng 6/2011), QE3 (tháng 9/2012). Nôm na cho dễ hiểu về các gói QE là không chỉ hạ lãi suất cho đồng tiền trở thành rẻ hơn, mà là bơm thẳng tiền vào doanh nghiệp bằng nhiều hình thức như mua tài sản thế chấp, hoặc chứng khoán,...và trả ra bằng USD.

Đối với QE3 là tâm điểm gây lên sự trồi sụt của các thị trường tài chính và chứng khoán thế giới, nhất là sự biến động tỷ giá đồng bạc VND tại Việt Nam cũng như gây ảnh hưởng lên việc giá vàng tăng vọt. Ngày 13/9/2012, Giáo sư Ben Bernanke - Chủ tịch thứ 14 của Hội đồng thống đốc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) công bố gói QE3. Khi đó Fed đồng ý mua 40 tỷ USD chứng khoán thế chấp, hay "mortgage-backed securities: MBS", và mỗi tháng bơm ra 85 tỷ USD mua vào trái phiếu các doanh nghiệp, các ngân hàng,...để cho các ngân hàng có thanh khoản trơn tru cho vay dễ dàng hơn,...

Trên đại thể, nới lỏng định lượng không thực sự làm tăng cung tiền trong lưu thông vào kinh tế, vì Fed mua trái phiếu trên thị trường thứ cấp, mà vẫn chủ yếu là Fed cố gắng hạ lãi suất và khuyến khích cho vay tiêu dùng khi mua trái phiếu, nó không trực tiếp làm tăng lượng tiền trong hệ thống ngân hàng. Điều này có thể giải thích rằng lãi suất tại Mỹ giữ quá thấp quá lâu vẫn không gây ra lạm phát. Lợi suất trái phiếu kỳ hạn 10 năm của Mỹ thực tế không tăng mà còn giảm, nếu Mỹ phát hành giấy nợ quốc trái kỳ hạn 10 năm để vay tiền, tức là phát hành loại trái phiếu chủ quyền. Sản lượng năng suất theo yêu cầu của các nhà đầu tư để vay vốn cho chính phủ Mỹ vay, nó phản ánh kỳ vọng lạm phát và khả năng hoàn trái các khoản nợ sẽ được hoàn trả thì Mỹ trả lãi rất thấp.

Nói chung, thực tế để hiểu đơn giản là giá trái phiếu và lãi suất là giống như một cái cân, tức là khi lợi suất trái phiếu đi lên, giá trái phiếu đi xuống (nó cho thấy hiệu suất trái phiếu của thị trường tiêu cực và bất ổn), và khi lợi suất trái phiếu đi xuống, thì giá trái phiếu đi lên (nó cho thấy hiệu suất trái phiếu của thị trường tích cực). Chẳng hạn, sản lượng trái phiếu của Mỹ trong tháng 9 trung bình là 2,03% thì qua tháng 10/2015 nó tăng lên 2,09%. Điều này nó đang cho thấy trái phiếu của Mỹ đang trong tình trạng tiêu cực vì rủi ro, các nhà đầu tư đang bán tháo trái phiếu Mỹ, hoặc họ đòi tăng lãi suất lên nếu Mỹ đi vay phải trả lãi cao hơn.

Đối với lãi suất của Trung Quốc, việc Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBOC) cắt giảm lãi suất cho vay một năm tới 0,25% xuống còn 4,35% vào ngày 23/10/2015, nhằm để thúc đẩy nền kinh tế để cứu vãn mức tăng trưởng thấp vừa rồi. Quyết định trên tất nhiên sẽ yêu cầu hạ thấp hơn dự trữ cho các ngân hàng. Đây là lần cắt hạ lãi suất bất thường, lần thứ 4 liên tiếp, kể từ ngày 4/2/2015 khi PBOC hạ tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tất cả các ngân hàng thương mại là 0,50% xuống còn 19,5% nhằm thúc đẩy bơm tín dụng vào kinh tế. Với mức lãi suất chỉ đạo xuống còn 4,35%, là mức thấp nhất mà PBOC đang áp dụng. Mức cao nhất là vào tháng 6/1996, khi PBOC tăng lãi suất chỉ đạo lên đến 10,98%.

Đối với Trung Quốc, tỷ lệ cho vay chính được tính vào các khoản vay của các ngân hàng quốc doanh do PBOC chỉ đạo nhằm cho các cá nhân và các công ty tư nhân vay bằng với lãi suất chỉ đạo là 4,35%, nôm na là Bắc Kinh chỉ đạo cho PBOC bơm tiền cho vay với chênh lệch lãi suất bằng 0%. Đó mới là nghịch lý, tuy nhiên lãi suất của các tổ chức vay tư nhân mà các ngân hàng khác cho vay chui thì có khi lên đến 20% như trường hợp đầu tháng 6/2013, khi China Everbright Bank (đây là ngân hàng đầu tư đứng hạng 11 của Trung Quốc) bị mất khả năng thanh toán vì không trả nổi một khoản nợ đáo hạn trị giá tương đương với ngân khoản 980 triệu USD cho giới đầu tư, dẫn đến giá trị cổ phiếu sụt mạnh 90%. Trong khi lãi suất chỉ đạo khu vực đồng EUR là 0,05% nhưng lãi suất cho vay của ngân hàng, tức là tỷ lệ trung bình của lãi được tính vào các khoản vay của các ngân hàng thương mại cho các cá nhân và các công ty tư nhân vay là 2,81%,...

Đối với lãi suất hạ vừa rồi của PBOC, cũng rất khó cứu vãn tình thế. Thực tế hiện nay các tập đoàn kinh tế quốc doanh của Trung Quốc chi phối đến 68% GDP, họ được ưu đãi vốn vay không hạn định, vì dễ dãi do quá nhiều tiền được chính quyền Bắc Kinh tài trợ, các tập đoàn quốc doanh này mới lập ra ngân hàng con, công ty tài chính, hay các công ty con khác, tất nhiên cả hệ thống tài chính đó chỉ nhằm lấy tiền ký gửi của dân Trung Quốc quá rẻ, và tiền đó cho các công ty khác vay. Khi gặp trường hợp kinh tế khó khăn, các doanh nghiệp không bán hàng được vì không cạnh tranh nổi với hàng hóa của các nước có đồng bạc hạ giá như đồng yên Nhật (JPY), EUR,...do vậy, khi bong bóng cổ phiếu tại Trung Quốc bị vỡ, giá trị tài sản của các doanh nghiệp và dân chúng giảm xuống, thì tất nhiên các khoản đầu tư đều giảm, dân chúng bớt tiêu dùng thì kinh tế đình đốn.

Bây giờ PBOC cố hạ lãi suất cũng vậy, sẽ không có tác dụng gì nhiều, nếu có hạ lãi suất thấp nữa thì các doanh nghiệp, và các nhà đầu tư sẽ chộp cơ hội là họ vay lãi thấp để đảo nợ, tức là họ ưu tiên phải trước hết là thanh toán bớt nợ thay vì họ đưa tiền vào kinh tế để sản xuất. Điều đó có nghĩa là họ sẽ không mặn mà đầu tư dù ngân hàng cho vay với lãi suất thấp cũng vậy. Nếu họ phá giá đồng CNY - Chinese Yuan Renminbi (Trung Quốc) thì bị kẹt, có thể gây ra trận chiến ngoại tệ, và mở rộng trận chiến ngoại thương.

Để giải quyết việc này, có lẽ Bắc Kinh đang soạn ra biện pháp QE mạnh mẽ hơn để dự phòng, nếu như tăng trưởng GDP vẫn thấp hơn kỳ vọng 6,9% trong quý thứ 3 của năm 2015. Đó là sự tăng trưởng tồi tệ nhất kể từ quý đầu tiên của năm 2009, chủ yếu là do sự sụt giảm về đầu tư cũng như trong sản lượng công nghiệp, đầu tư bất động sản trì trệ và suy giảm trong xuất khẩu xuống mức thấp, mặc dù trong tháng 9/2015, Trung Quốc vẫn đạt thặng dư thương mại đến 60,34 tỷ USD, vậy mà họ cũng bị lâm nạn khó khăn. Như tôi hay nói, đó là nền kinh tế tăng trưởng bệnh hoạn. Không thể có chuyện mà trên thế giới hễ cứ có 5 người thì phải có 1 người mua hàng Trung Quốc mãi được.

Biện pháp tăng trưởng bền vững của Trung Quốc đó là nâng cao sức tiêu thụ nội địa, bằng cách này, họ phải giữ tỷ giá ổn định, tức là không phá giá đánh sụt đồng CNY bằng việc cắt hạ đồng lương của nhân công để xuất khẩu bằng mọi giá. Bằng cách này, Trung Quốc sẽ bơm tiền bơm tiền theo hình thức QE. Nói chung, các khí cụ QE này nó không chỉ có công hiệu "dọa nạt", là người dân và giới tiêu dùng biết lãi suất ngắn hạn và dài hạn của PBOC là sẽ được duy trì rất lâu ở mức thấp nhất với thời gian dài đáng kể, để người dân Trung Quốc nghĩ rằng lãi suất thấp, tiền nhiều và rẻ sẽ đẩy lạm phát tăng cao khiến dân Trung Quốc sợ lạm phát vì đồng CNY trượt giá nên hết dám cất giữ tiền ở trong ví nữa mà đem tiền ra mua bất động sản đang bị ế, hay mua cổ phiếu làm tăng giá chứng khoán, giúp các công ty Trung Quốc có tiền mà không bị nợ xấu, người tiêu dùng thì sợ lạm phát mà lấy tiền ra chi tiêu giúp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Nói vậy, nhưng không phải vậy, với nhà giàu Trung Quốc mà đồng tiền chưa bị hạ giá họ đã tẩu tán tài sản chạy ra nước ngoài trước rồi huống hồ người dân xứ này cũng chẳng vừa.


Phương Thơ, Morgan Stanley (NYSE: MS)

APPLE (NASDAQ, DOW JONES: AAPL) QUA NHỮNG CON SỐ KHỦNG

APPLE (NASDAQ, DOW JONES: AAPL) QUA NHỮNG CON SỐ KHỦNG

APPLE (NASDAQ, DOW JONES: AAPL) QUA NHỮNG CON SỐ KHỦNG

Hãy mường tượng so sánh, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam có giá trị trong năm 2014 là 186,20 tỷ đô la Mỹ, chiếm 0,30% sản lượng GDP của nền kinh tế thế giới. Dân số Việt Nam đại diện cho 1,27% tổng dân số thế giới, với 90,73 triệu dân. trong khi tổng số vốn hóa của Apple có giá trị hiện tại là 679,08 tỷ USD, tức lớn gần gấp 3,65 sản lượng GDP kinh tế VN. Với dân số của Apple 97.000 nhân công. Lĩnh vực ngành nghề chủ lực thì Apple chuyên thiết kế, sản xuất, tiếp thị và truyền thông di động và các thiết bị truyền thông, máy tính cá nhân, và di chơi nhạc kỹ thuật số, và bán một loạt các phần mềm liên quan, dịch vụ, phụ kiện, các giải pháp mạng,...Đối với VN, lĩnh vực chủ lực như: nông sản: gạo, hạt điều, hạt tiêu đen, cà phê, chè, sản phẩm thủy sản và cao su, sản xuất, công nghệ thông tin và gia công các lĩnh vực công nghệ cao ngành công nghiệp,...

Tất nhiên, ở đây chỉ so vốn hóa của Apple, sẽ hoàn toàn khác tổng sản phẩm quốc nội (GDP) cũng như giá trị tài sản khác của dân chúng. Để chấp nhận cho đơn giản ta xem nó như nhau để dễ tính toán. Trong năm 1989, sản lượng GDP của VN chỉ đạt mức 6,30 USD tỷ USD. Đối với Apple, năm 1976, Steve Jobs khi đó vừa ngoài 20 tuổi, đã thực hiện được giấc mơ mở công ty, và Apple Computer ra đời kể từ đó, và trụ sở được đặt ngay trong garage nhà để xe của bố mẹ Steve Jobs, với số vốn ban đầu chỉ có vọn vẹn 1.300 USD. Điều kiện tài chính và tài nguyên thấp hơn hàng vạn lần so với VN sẵn có.

Ngày 12/12/1980 Apple tham gia thị trường chứng khoán để chào sàn, hay IPO với giá 44 USD/cổ phiếu. Điều gì đã xẩy ra với Apple với logo hình quả táo bị cắn chưa hết. Sáu năm sau, nhãn hiệu quả táo đi đến bờ vực tan vỡ và chỉ còn vỏn vẹn 90 ngày để đệ đơn tuyên bố phá sản. Bước đường cùng, ban điều hành quyết định mua lại NeXT của Steve Jobs vào năm 1996 và mời luôn chủ nhân của hãng tin học này về làm cố vấn.

Chẳng ai có thể ngờ rằng cách đây gần 19 năm, tập đoàn công nghệ cao cấp của Mỹ này từng suýt bị đe dọa phá sản, nay lại đang thống lĩnh toàn bộ ngành công nghệ mũi nhọn toàn cầu và Apple đẫn dầu trong số những doanh nghiệp làm ăn có lãi nhất trên thế giới. Nếu mỗi chiếc điện thoại iPhone sản xuất ra và được bán với giá là 10 đồng chẳng hạn, thì Apple thu về đến 3 đồng tiền lãi. Một mức lãi thật ghen tỵ cho bất cứ hãng công nghệ nào.

Trên thế giới, hiếm có một công ty nào như Apple lại là một trong những đại công ty hiếm hoi khi họ có thể bán ra hàng trăm triệu sản phẩm mà không hề có một đơn vị nào do Apple sản xuất. Điều đó có nghĩa là Apple chỉ tập trung vào khâu thiết kế và phát triển phần mềm, khâu sản xuất được gửi trọn cho các đối tác của rất nhiều hãng gia công của họ, đặc biệt là châu Á, nhất là TQ, nơi có nhiều đất hiếm, kim loại quý giá hời dùng cho linh kiện các sản phẩm điện thoại iPhone của Apple.

Thực tế, các hãng gia công cho Apple họ không thể nhái được mẫu thiết kế của Apple, họ cũng chỉ được biết rất ít thông tin về sản phẩm mà họ đang tham gia vào đơn đặt hàng thiết kế mà Apple giao. Đây chính mờ ảo về thông tin này đã tạo dựng thêu dệt phần nào huyền thoại của Apple với những sản phẩm cao cấp như iPhone hay iPad. Trên thế giới hầu như không có hãng công nghệ đối thủ nào có thể bắt chước Apple để sản xuất được sản phẩm cool như điện thoại iPhone.

Trong năm 2011, giá trị vốn hóa của Apple có trị giá chứng khoán hàng thứ hai trên thế giới với 337 tỷ USD, chỉ thua duy nhất đại gia khổng lồ dầu khí Exxon Mobil Corporation (Dow Jones, NYSE: XOM).Tuy nhiên trị giá chứng khoán của Apple cao hơn đến 61%.so với đại tập đoàn trong ngành tin học khác là Microsoft Corporation (Dow Jones, NASDAQ: MSFT). Trong năm 2012, Apple đã trở thành đại công ty có vốn hóa lớn nhất tại Mỹ và thế giới. Apple phế truất ngôi vị của đại công ty dầu khí lớn nhất thế khi ấy là Exxon Mobil, khi vốn hóa của Apple lên đến 469 tỷ USD. Trong tháng 3/2015, Apple có tổng số vốn hóa lớn nhất thế giới với 737 tỷ USD, một con số vĩ đại, lớn gần gấp bốn lần sản lượng GDP của VN trong năm 2014.

Theo thống kê tại sàn NASDAQ, NYSE, cho thấy, 19 đại công ty xếp sau Apple có vốn hóa lần lượt là: Exxon Mobil: 416 tỷ USD, tỷ USD, Google, hay Alphabet Inc Class C (NASDAQ: GOOG): 409 tỷ USD, Microsoft (Dow Jones: MSFT): 318 tỷ USD, Berkshire Hathaway: 286 tỷ USD, Roche Holding - 266 tỷ USD, Johnson & Johnson (Dow Jones: JNJ) - 261 tỷ USD, General Electric (Dow Jones: GE): 256 tỷ USD, Wells Fargo (NYSE: WFC): 244 tỷ USD, Nestle (VTX: NESN): 244 tỷ USD, Wal-Mart (Dow Jones: WMT): 242 tỷ USD, Royal Dutch Shell (NYSE: RDS.A): 238 tỷ USD, PetroChina: 225 tỷ USD, Novartis: 224 tỷ USD, Chevron (Dow Jones: CVX): 220 tỷ USD, JPMorgan Chase (Dow Jones: JPM): 215 tỷ USD, Procter & Gamble (Dow Jones: PG): 213 tỷ USD, Samsung: 209 tỷ USD, Pfizer: 205 tỷ USD, HSBC: 199 tỷ USD, thì cho đến nay, duy nhất vốn hóa của Apple không ngừng phình ra bất chấp khó khăn kinh tế, ngược lại các đại gia trên thì co cụm lại vì nhiều lý do như giá dầu thô giảm, suy thoái kinh tế,...

Trong ngày 7/1/2011, giá mỗi cổ phiếu của Apple là 48 USD, thì ngày 1/6/2012, giá mỗi cổ phiếu đã tăng lên 60 USD, ngày 4/1/2013, giá mỗi cổ phiếu tăng lên thành 75 USD, mặc dù trước ấy ngày 21/9/2012, giá mỗi cổ phiếu của đã có lúc vọt lên trên 100 USD. Tuy nhiên, trong suốt một năm sau, tức là ngày 3/1/2014, giá mỗi cổ phiếu của Apple chỉ tăng được 2,28 USD, tức chỉ đạt 77,28 USD. Đến đầu năm 2015, cổ phiếu của Apple lên 109,33 USD trong ngày 2/1/2015. Cổ phiếu của đạt mức đỉnh cao nhất của nó vào ngày 22/5/2015, khi tăng gần 134 USD, giá cổ phiếu của Apple chốt ngày 23/10/2015 ở mức 119,08 USD (hình vẽ). Đại công ty kỹ nghệ Apple luôn có sẵn trong két bạc 127 tỷ USD dự trữ bằng tiền mặt, lớn gần gấp 3 lần kho dự trữ ngoại hối của VN.

Hiện nay cổ phiếu công nghệ Apple vẫn chưa công bố kết quả kinh doanh. Dự kiến kế hoạch thông báo kết quả kinh doan của Apple sẽ vào thứ ba này. Hầu hết các nhà đầu tư sẽ tập trung vào dòng iPhone, bởi Apple đã bán ra 51 triệu đơn vị liên qua đến thiết bị công nghệ của Apple. Hiện nay, tiềm năng tăng trưởng của công ty Apple có thể không như ý muốn, và có dấu hiệu suy giảm.

Phương Thơ, Morgan Stanley (NYSE: MS)

24 thg 10, 2015

GIÁ DẦU THẾ GIỚI VÀ PUTIN

(*) Biểu đồ giá dầu tính trung bình một năm từ 1990 - 2015. Giá dầu thô WTI Crude Oil (Nymex) tại Bắc Mỹ rơi lại xuống còn 44,62 USD/thùng (hình vẽ)


GIÁ DẦU THẾ GIỚI VÀ PUTIN

Sơ lược giá dầu thế giới gần nhất:
Hiện nay giá đồng USD đang ở mức cao nhất trong 5 năm qua (tính từ năm 2010, khi đồng EUR của các quốc gia khối Eurozone bị khủng hoảng cao trào). Tác động của đồng USD mạnh khiến cho hóa đơn dầu lửa đắt đỏ hơn đối với các nước có đồng tiền yếu hơn, dẫn đến việc cắt giảm nhu cầu về dầu lửa, khí đốt, khiến giá dầu lửa càng sụt giảm gây xáo trộn không ít khó khăn cho các nước sản xuất dầu cũng như nguyên liệu cho sản xuất từ dầu.

Hầu hết các hợp đồng dầu được định giá bằng đồng USD. Giá dầu thường tăng giảm ngược chiều với đồng USD, khi đồng USD suy yếu, giá dầu tăng lên, hoặc khi đồng USD tăng thì giá dầu giảm. Vì hiện nay chỉ số U.S. Dollar Index (DXY) để tính ra giá trị của đồng USD là 97,04, đã đẩy giá dầu xuống mức thấp. Và giá dầu đã mất hơn 45% so với năm trước. Không giống như giao dịch hàng hóa khác, giá dầu thô là mặt hàng "dễ bốc hơi" như chính nó.

Trong quá khứ, giá dầu tính trung bình một năm từ 1990 - 2014 là thì giá dầu dao đông 24,53 USD/thùng đến 93,25 USD/thùng. Cụ thể, giá dầu thô WTI Crude Oil (Nymex) tại Bắc Mỹ từ năm 1990 -
2014:

1990: 24,53 USD/thùng
1991: 21,54 USD/thùng
1992: 20,58 USD/thùng
1993: 18,43 USD/thùng
1994: 17,20 USD/thùng
1995: 18,43 USD/thùng
1996: 22,12 USD/thùng
1997: 20,61 USD/thùng
1998: 14,42 USD/thùng
1999: 19,34 USD/thùng
2000: 30,38 USD/thùng
2001: 25,98 USD/thùng
2002: 26,18 USD/thùng
2003: 31,08 USD/thùng
2004: 41,51 USD/thùng
2005: 56,64 USD/thùng
2006: 66,05 USD/thùng
2007: 72,34 USD/thùng
2008: 99,67 USD/thùng
2009: 61,95 USD/thùng
2010: 79,48 USD/thùng
2011: 94,88 USD/thùng
2012: 94,05 USD/thùng
2013: 97,91 USD/thùng
2014: 93,25 USD/thùng (giá dầu chỉ giảm về 54,73 USD/thùng trong cuối tháng 12/2014)

Thực tế, Trong quá khứ gần đây nhất là vào cuối tháng 8/2013, giá dầu giao theo tháng của dầu thô Brent tại London tăng lên 115,59 USD một thùng, mức cao nhất trong 2 năm trước đó (Brent Crude Oil - ICE đạt đỉnh ở mức 126 USD một thùng trong tháng 8/2011). Giá dầu thô WTI Crude Oil (Nymex) tại Bắc Mỹ lên 109,98 USD một thùng, là mức cao nhất trong 2 năm trước đấy (giá dầu thô WTI Crude Oil - Nymex vọt lên 113,93 USD/thùng vào ngày 29/4/2011). Đây chưa phải là cái đỉnh của nó. Đỉnh cao của nó là 143,68 USD một thùng vào tháng 7/2008, đồng USD mất giá đến 40% so với đồng EUR (tính trung bình từ năm 2008 - 2011). Hiện nay, giá dầu thô WTI Crude Oil (Nymex) tại Bắc Mỹ rơi lại xuống còn 44,62 USD/thùng. Giá đáy thấp nhất là 38,24 USD/thùng vào ngày 24/8/2015. Dầu thô Brent tại London rơi lại xuống còn 47,99USD/thùng. Giá đáy của Brent 42,69 USD/thùng cũng vào ngày 24/8/2015.

Giá dầu, được thiết lập bởi các thị trường giao dịch hàng hóa. Họ đấu giá dầu hợp đồng tương lai mỗi ngày. Nói chung, một hợp đồng kỳ hạn là một thỏa thuận hoặc là mua hoặc bán một loại tài sản nào đó được thỏa thuận công khai giao dịch trao đổi. Các tài sản thường là một loại hàng hóa, cổ phiếu, trái phiếu, dầu thô, hoặc một loại tiền tệ. Hợp đồng ghi rõ khi nào nó sẽ được chuyển giao và ở mức giá nào. Hầu hết các hợp đồng xác định rằng tài sản phải thực sự được giao theo đúng những gì đã giao kèo ký kết trước đó. Tất nhiên, để làm được việc này, thì các hợp đồng sau khi đã giao kết được trả tiền hay các hình thức tài sản khác là thanh toán hết trước trong ngày.

Thông thường hơn, hợp đồng tương lai được sử dụng bởi các nhà đầu tư và thậm chí cả các nhà đầu cơ hoàn toàn để tạo ra lợi nhuận. Họ không có ý định chuyển giao bất kỳ hàng hóa, giới đầu cơ này nhảy vào mua qua bán lại không để đem các hợp đồng dầu này về dùng mà để kiếm lời nếu mặt hàng lên hay xuống giá trong một tương lai nhất định. Thay vào đó, họ sẽ mua một "hợp đồng bù" ở một mức giá mà sẽ làm cho họ có lợi trong tương lai. Nói cách khác, họ đang đặt cược vào giá tương lai của hàng hóa đó. Nói chung, giới đầu cơ này lấy rủi ro rất lớn khi đoán trật mà cũng kiếm lời bộn tiền nếu họ đoán đúng giá sẽ tăng trong hợp đồng mà họ trù tính, nhưng nếu tới thời điểm hợp đồng đó giá hạ thì họ lỗ nặng, và giới đầu tư vào dầu họ có thể tác động rất lớn vào sự tăng giảm của giá dầu.

Các sàn giao dịch hợp đồng tương lai: Tại Mỹ, Dow Jones index future of ECBOT, NASDAQ index future of ECBOT, S & P 500 index future of Globex (Chicago Board of Trade), WTI Crude Oil (Nymex),...Tại Âu châu có thể tìm thấy: Tại Đức có DAX - Các chỉ số DAX tương lai của DTB (Deutsche Boerse). Pháp: CAC40 - The CAC40 index future of MONEP (Euronext Paris). Tại Anh: Z - Chỉ số FTSE100 tương lai của LIFFE (London International Futures Exchange), ICE Futures Europe London,...

Giá dầu chạm mức cao mọi thời đại 143,68 USD một thùng vào tháng 7/2008, sau khi tăng vọt 25% trong ba tháng. Hầu hết người ta đổ lỗi cho nhu cầu về dầu từ tăng trưởng nóng của kinh tế Trung Quốc và Ấn Độ, kết hợp với giảm nguồn cung từ các mỏ dầu Nigeria và Iraq. Theo EIA, thì vận tải hàng hóa dựa vào dầu chi phối đến 92%, nên dầu thô là sản phẩm chiến lược rất quan trọng vì nó cần thiết cho việc sản xuất và vận tải của tất cả các nước, cũng như ảnh hưởng của dầu thô nó chi phối toàn bộ túi tiền của người tiêu dùng. Bởi lẽ, nếu giá dầu tăng, tất nhiên sau đó, giá khí đốt tự nhiên cũng sẽ tăng theo. Chính vì lý do này, giá dầu tăng cao làm tăng chi phí của tất cả mọi thứ của người tiêu dùng thế giới mua sắm chi tiêu hàng ngày, đặc biệt là thực phẩm sẽ tăng giá, người tiêu dùng bị thiệt hại. Đó là bởi vì rất nhiều chi phí thức ăn phụ thuộc vào giao thông vận tải. Giá dầu tăng cao cuối cùng sẽ làm tăng lạm phát.

Tuy nhiên EIA dự đoán, sau năm 2020, giá dầu thế giới sẽ tăng tương đương với 141,28 USD/thùng và sẽ duy trì trên ở mức tăng này cho đến tận năm 2040. Đó là báo cáo với gian ý của con buôn thao túng thị trường. Trước đó, Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), và EIA cũng đã dự báo, giá dầu Brent có thể tăng lên 270 USD mỗi thùng vào năm 2020. Với dự đoán nền kinh tế các nước trong khối BRICS, gồm, Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc và Nam Phi, với nhu cầu về dầu sẽ tăng vọt vì sự tăng trưởng bùng nổ của những nước này, nhất là từ Trung Quốc, Ấn Độ và các thị trường mới nổi. Bây giờ TQ thoái trào, nhóm nước còn lại trong khối BRICS bị bất ổn, nên dự đoán giá dầu không có giá trị và phải tính toán lại.

Hãy thận trọng rằng, với giá dầu cao như dự phóng này, chỉ có khách hàng ở châu Âu tiêu thụ dầu mỏ lớn thứ ba thế giới mới trả được chi phí, bây giờ Âu châu gặp nạn vì khủng hoảng nợ và nạn giảm phát nên sẽ không có nhu cầu nhiều về dầu, và cũng chả hào phóng để mua dầu giá cao.


Putin và giá dầu:
Tham vọng không ngừng của Tổng thống Nga Vladimir Putin đã nâng nước Nga trở nên nổi bật trên sân khấu chính trị quốc tế trong vài tuần nay tại Syria. Putin đã vẽ ra Nga đã trở thành tâm điểm của quốc tế trong các trò chơi địa chính trị ở Trung Đông. Về lý thuyết Putin đang đẩy nước Nga gần gũi hơn những gì giống như cuộc chạy đua võ trang với Mỹ trong những năm Tổng thống Ronald Reagan cầm quyền đã giúp mang lại sự sụp đổ của Liên bang Xô viết, hoặc Putin đang tuyệt vọng cố gây ra căng thẳng leo thang ở Trung Đông nhằm đẩy giá dầu tăng lại như trong quá khứ.

Thực tế, dưới góc độ một nhà phân tích kinh tế giàu kinh nghiệm sẽ nhận thấy nước Nga của Putin đang phiêu liêu mạo hiểm không đơn giản không thể giành chiến thắng. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) của Nga năm năm 2014 chỉ đạt 1.860,60 tỷ USD. Giá trị GDP của Nga chỉ đóng góp cho nền kinh tế thế giới đúng 3% (báo cáo của Ngân hàng Thế giới, WB), thì kinh tế Nga xếp thứ 10 trên thế giới. Năm 2013, kinh tế Nga có sản lượng GDP vượt 2.079,02 tỷ USD, Tổng thống Nga Vladimir Putin đưa kinh tế Nga trở thành nền kinh tế lớn 9 của thế giới, thực tế là thứ 8, vì Nga chỉ kém Italy vài tỷ USD, khi giá dầu duy trì ở 100 USD/thùng, thì Putin tự tin hơn ai hết, và sẵn sàng dùng võ khí dầu và khí đốt bắt Tây phương làm con tin bằng việc dọa khóa van dầu và khí đốt cho khách hàng Âu châu, khi Putin tuyên bố muốn đẩy giá dầu lên 150 USD/thùng, việc này có thể khiến cho kinh tế Âu châu và Mỹ suy thoái và kinh tế Nga sẽ vươn lên đứng hàng thứ 4 để vượt mặt Đức. Tuy nhiên, đến hết quý 3, nền kinh tế Nga đã biến mất khỏi Top 10, và sẽ mất hút trong nhiều năm.

Dân số của Nga là chỉ vừa lớn hơn so với Nhật Bản một chút là 144 triệu dân, với đất nước trải rộng 17.098.242 km². Thu nhập GDP của bình quân đầu người của Nga trướcc đây thuộc loại khá, và Nga có nhiều tỷ phú USD xếp loại "khá giả của thế giới" thì nay thu nhập của dân Nga còn thấp hơn thu nhập của Thổ Nhĩ Kỳ, một nước đối đầu với Nga tại Trung Đông. Chi tiêu quân sự của Putin hiện nay đang ở mức cao chưa từng thấy kể từ thời Liên Xô sụp đổ. Hiện nay, các khoản chi phí thực cho quân sự của Putin đã tăng đang đến gần 20% GDP.

Với tốc độ tăng trưởng hàng năm của GDP của Nga là âm -4,6%, thu nhập suy giảm và lạm phát tăng 15,7%, đó là bài toán cộng trừ của một công thức đơn giản cho phá sản của Putin trong 2 năm nữa. Bởi Nga hiện nợ nước ngoài, chủ yếu các khoản nợ do Nga bảo lãnh cho các đại công ty dầu khí và ngân hàng Nga vay hiện ở mức 521,60 tỷ USD. Trong đó có 190 tỷ USD sẽ đáo hạn cuối quý thứ 4 năm 2017.

Xuất khẩu của Nga hiện nay đã giảm 39% chỉ ở mức 25,3 tỷ USD so với cùng tháng năm trước. Đó là giá trị thấp nhất kể từ tháng 6/2009, mặc dù Nga vẫn đạt thặng dư thương mại nhờ bán dầu và không nhập hàng ở Âu châu.

Nhiều chuyên gia cho rằng sự gia tăng về chi tiêu quốc phòng của Nga có thể mang lại sự tăng trưởng trở lại vào nền kinh tế của Nga, chủ yếu là "lái buôn vũ khí và gây bất ổn để giá dầu tăng". Thực tế, công thức đơn giản để kích thích tài chính chỉ hoạt động tốt khi có tỷ lệ lạm phát thấp, đó là bởi vì các chính phủ có thể vay vốn với chi phí thấp nhờ giá rẻ với mức lãi suất thấp. Nhưng hiện nay chi phí lợi suất trái phiếu Nga lại đạt 10,09%, và lạm phát đang tăng vọt ở mức15,7% hàng năm, chi phí vay vốn đắt đỏ nó không phải là rẻ. Đây là công thức đó có thể chỉ dẫn con đường cho Nga đến suy thoái kinh tế sẽ tích lũy ít nhất 2 năm nữa. Hiện nay, sau ánh hào quang của Putin thì rất nhiều doanh nghiệp Nga thiếu hụt tiền và phải trả lương cho nhân công bằng chính sản phẩm, kẻ cả cục gạch của các công ty sản xuất gạch xây dựng ở Nga.


Phương Thơ, Morgan Stanley (NYSE: MS)