14 thg 3, 2016

PHÂN TÍCH LÃI SUẤT ÂM THEO HƯỚNG ĐẦU CƠ

Lãi suất âm, có lẽ là chủ đề mà nó chiếm quá nhiều thời gian, và hầu như rất nhiều người ở VN hay thắc mắc về lãi suất âm của một số nước giàu trên thế giới đang đi ngược lại lý thuyết kinh tế, và hỏi rằng: "Thưa chị Phương Thơ, có khi nào TQ và VN cũng áp dụng lãi suất âm bằng đồng nội tệ không?".

Về câu chuyên lãi suất âm tiêu cực của một số nước mà các chuyên gia kinh tế VN hay lý luận sai, đó là lãi các ngân hàng cho vay ra cũng âm hay cao nhất là 0,5%. Ở đây tôi thận trọng lưu ý là các nước duy trì lãi suất âm phải có đồng tiền mạnh, nợ chủ yếu là nội trái bằng đồng tiền của họ. Xem thêm ở đây: "Lãi suất âm có cứu được đồng euro?". Nguồn: http://cafef.vn/tai-chinh-quoc-te/lai-suat-am-co-cuu-duoc-dong-euro-201406111503530506.chn
ECB họ thừa kinh nghiệm nên không cần ai phải dạy đời họ. Nhất là mấy tay chuyên gia kinh tế VN, hay phân tích linh tinh thiếu kinh nghiệm.

Đầu tiên ta nhắc lại là hiện nay các nước gia đang áp dụng lãi suất bằng số không hoặc âm tiêu cực, nó bao gồm Thụy Sĩ âm (-0,75%); Đan Mạch âm (-0,65%); Thụy Điển âm (-0,50%); Nhật âm (-0,10%); Bulgaria (0%). Khu vực các nước dùng chung đồng Euro (0,05%), thực tế nó đang áp dụng cho tỷ lệ tái cấp vốn chuẩn của ECB quy định, tuy nhiên tiền gửi ký thác bằng đồng EUR âm tiêu cực ở mức -0,30%, dự kiến trong tháng 03/2016 này ECB có thể hạ thêm 10 điểm cơ bản lãi suất tiền gửi bằng đồng EUR xuống mức âm -0,40%.
Thực tế các nước có mức lãi suất âm nếu tính vào phí tổn lạm phát và nhiều yếu tố khác thì TQ duy trì lãi suất 4,35 % cũng vẫn âm. Những nước có mức lãi suất siêu thấp lần lượt là: Israel (0,10%), Panama (0,21%), Canada, Mỹ, Anh, Singapore là 0,5%. Na Uy, Macau, Hồng Kông, Bahrain thì duy trì lãi suất 0,75%. Tuy nhiên lãi suất mà các ngân hàng thương mại cho các hộ gia đình, cá nhân, doanh nghiệp vay lại khác. Thí dụ Singapore cho vay "xã hội đen cắt cổ thân chủ" đến 5,35%,...
Về hồ sơ các nước đang áp dụng lãi suất âm tiêu cực. Đó là các nước này chỉ áp dụng lãi suất âm tiêu cực cho đồng nội tệ của họ chứ không áp dụng cho đồng ngoại tệ khác. Thí dụ Thụy Sĩ chỉ áp dụng lãi suất âm tiêu cực khi hạ lãi suất đồng Franc Thụy Sĩ âm -0,75%, và được giữ hết tháng 06/2016, khi có thông báo mới từ Ngân hàng trung ương Thụy Sĩ (SNB).

Thực tế đi vào phân tích chuyên môn như tôi hay phân tích nhiều lần rồi về lãi suất âm tiêu cực này vì nhiều lý do. Chẳng hạn, như tỷ giá hối đoái. Cụ thể là 3 đồng bạc của các nước Âu châu như Thụy Sĩ, Đan Mạch, Bulgaria, họ chốt đồng bạc của họ theo tỷ giá cố định vào đồng EUR. Thí dụ như Đan Mạch neo tỷ giá cổ định 1 EUR = 7,46 Danish Krone (DKK), trước ấy là 1 EUR = 7,45 DKK; Bulgaria neo tỷ giá đồng Bulgarian Lev có ký hiệu là BGN thì 1 EUR = 1,955 BGN,...Trong khi đối với Thụy Sĩ, ta nên nhớ là vào ngày 15/09/2015, Ngân hàng trung ương Thụy Sĩ (SNB) họ đã chính thức từ bỏ tỷ giá cố định tối thiểu là 1,20 Franc Thụy Sĩ (CHF) = 1 EUR, đồng thời gây sốc khi hạ lãi suất đồng Franc Thụy Sĩ xuống số âm -0,75%, vì đồng CHF neo vào đồng EUR giảm giá quá mạnh so với đồng USD.

Hãy mường tượng một lỗ hổng khổng lồ để giới đầu cơ đánh vào đồng Franc Thụy Sĩ khi neo tỷ giá cố định vào đồng EUR. Ta thấy, gia đoạn thời gian từ năm 2002 -- 2007 - Đồng USD giảm 40% so với đồng EUR, đó là các khoản nợ trên GDP của Mỹ tăng lên 60%. Chẳng hạn, vào 2002, thì 1 EUR chỉ mua được 0,87 USD, đến giữa năm 2007 thì 1 EUR = 1,44 USD. Vào năm 2009 thì 1 EUR mua được 1,43 USD. Và cứ thế đồng EUR giảm dần giá trị của nó so với đồng USD, và mãi đến năm 2014 thì 1 EUR = $ 1,21, rồi năm 2015 có lúc 1 EUR chỉ mua được còn $ 1,05 (1 EUR = 1,05 USD trong tháng 03/2015), và bây giờ là 1 EUR mới mua được 1,10 USD. Tức là đồng EUR đang giảm giá mạnh so với đồng USD.
Thứ nữa là đồng Franc Thụy Sĩ (CHF), lại là đồng bạc nằm trong rổ tiền của nhiều nước neo vào. Thí dụ như chỉ số (DXY, USDX) đo lường hiệu suất của đồng USD, nó được tính qua rổ tiền EUR, JPY, GBP, CAD, CHF, SEK,....Ngoài ra cả còn có chỉ số "CFETS RMB Index" để tính ra đồng RMB - Trung Quốc, nó được bổ sung vào ngày 25/12/2015, khi TQ vào rổ tiền tệ và giỏ tiền SDR của IMF.

Đó là đồng RMB của TQ vẫn đo lường giá trị của đồng RMB so với rổ 13 đồng tiền chính, nó dựa vào trọng lượng thương mại quốc tế, bao gồm: Đồng USD chiếm tỷ trọng cao nhất là 26,4%, đồng EUR (chiếm 21,4%) và yen Nhật - JPY (chiếm 14,7%), và các loại tiền tệ của các nước như Bảng Anh (GBP), Dollar Singapore, Dollar Hồng Kông, Franc Thụy Sĩ (CHF), Dollar New Zealand (NZD), Dollar Australia, và các đồng tiền của Canada, Malaysia, Nga và Thái Lan,...

Thực tế Thụy Sĩ hạ lãi suất đồng Franc của họ âm -0,75% để đưa tỷ giá đồng Franc về mức hợp lý nhằm tránh nạn tẩu tán tài sản chốt lời qua đồng USD, thì Thụy Sĩ sẽ rất tốn kém.
Một cách cụ thể hơn, nếu đồng Franc Thụy Sĩ treo trên cao ảo quá lâu so với đồng EUR trước đây, thay vì giới đầu cơ và đầu tư họ thay vì mua đồng CHF, nhưng thực tế họ làm ngược lại, họ sẽ bán đồng CHF đang giảm giá cùng đồng EUR để chuyển qua mua đồng USD thì rõ ràng Thụy Sĩ bị thiệt hại hơn khi phải trang trải phí tổn quá lớn vì đồng USD tăng giá so với đồng EUR mà Franc Thụy Sĩ neo vào đó, nên Ngân hàng trung ương Thụy Sĩ mới dùng nhiều khí cụ để đưa đồng Franc Thụy Sĩ về mức hợp lý để cân bằng cung và cầu ngoại tệ của họ,...

Vì dù sao Thụy Sĩ cũng phải cần dự trữ đồng USD để trang trải cho mua bán giao dịch hàng hóa, như dầu thô,... và cho vay quốc tế và phải đổi ra USD Mỹ. Nếu mà gửi lãi suất âm bằng đồng CHF vẫn còn lời chán khi chuyển qua đồng EUR suy nhược mất giá. Thụy Sĩ là quốc gia kinh doanh tài chính nên không có nghĩa vụ phải dìm đồng bạc cho thấp để xuất khẩu hàng hóa để mà bị thiệt thòi.

Đối với Đan Mạch, Ngân hàng Trung ương của Đan Mạch (Danmarks Nationalbank) đã tăng 10 điểm cơ bản lãi suất đồng DKK từ mức âm tiêu cực -0,75% lên thành -0,65% để giữ tỷ giá hối đoái của đồng EUR trong biên độ dao động +/-2,25%, để chốt tỷ giá cố định 1 EUR = 7,46 Danish Krone (DKK), và hiện nay duy trì lãi suất âm tiêu cực -0,65%. Danmarks Nationalbank cũng chơi trò tỷ giá hối đoái cố định khong kém gì Thụy Sĩ.

Tất nhiên lãi suất cho vay ra tất cả đều dương chứ không có âm, thậm chí là các ngân hàng này còn lời khi "cho vay cứa cổ", đó là bởi vì nhận lãi âm mà cho vay ra cũng không nhẹ, chẳng hạn lãi vay mà các ngân hàng thương mại khu vực đồng Euro cho thân chủ vay tính trung bình cho các nước là dương +2,65%. Ta lưu ý lãi suất cho vay khu vực đồng Euro này nó không được quyết định của Ngân hàng trung ương Âu châu (ECB), mà do chính các ngân hàng trung ương mỗi nước tự ấn định.

Các nước Âu châu dùng chung đồng Euro đang cố tình dìm đồng bạc của họ thất thấp và lâu, kể cả dùng lãi suất âm tiêu cực chủ yếu gây nản lòng giới đầu cơ. Đó là bất cứ động thái nào đồng EUR tăng giá mạnh như trước thì giới đầu cơ lập tức ào ạt bán đi các tài sản niêm yết bằng đồng EUR để mua USD thì các nước Âu châu chết kẹt là phải đi vay hay phát hành trái phiếu bằng đồng USD để trả ra thị trường.

Ta nên nhớ các ngân hàng tại Âu châu, hay hay kể cả Thụy Sĩ đã nhận một đống USD tiền ký thác và tiền đầu tư của giới đầu tư khi đồng USD còn rẻ chứ chả phải ngon lành gì mà họ muốn lãi suất âm. Thậm chí nhiều chính phủ các nước Âu châu con dư tiền EUR, CHF, DKK,...còn cho người đi gõ cửa từng nhà "biếu người dân tiền xài chơi".

Ai cũng đều biết là khi duy trì lãi suất âm tất nhiên sẽ đánh sụt vào người có tiền tiết kiệm nếu trước đây nhờ ngân hàng cất giữ không lấy lãi thì bây giờ phải trả thêm tiền cho ngân hàng thì càng đánh sụt khoản tiết kiệm của họ thì càng khiến người ta càng mất một khoản tiền. Đó là vì họ ký thác vào ngân hàng với lãi suất tiêu cực âm thì càng khiến họ không có thêm lợi tức thì họ càng chắt bóp thủ tiền thủ thân chứ đâu phải cả một đất nước người ta sợ gửi tiền trả phí mà khuyến khích toàn dân đem tiền ra thổi bong bóng cổ phiếu để kiếm lời đầu tư cỏ phiếu thì e rằng là không ổn.

Ngẫm lại, các nước Âu châu, như Thụy Điển, Thụy Sĩ,...họ không ngu ngốc đến mức đó để thiên hạ dạy đời họ đâu. Thụy Sĩ là thiên đường về tài chính ngân hàng, và có nghiệp vụ tài chính cả hàng thế kỷ rồi. Thụy Điển là nơi trao giải thưởng Nobel đủ lĩnh vực, từ vật lý, y khóa, kinh tế,... họ cũng không mất chí nhớ tự "rút súng bắn vào chân mình" mặc cho các tổ chức, các nhà kinh tế gào thét can ngăn. Đây chỉ là phân theo kinh nghiệm đầu cơ tài chính, tôi không chịu trách nhiệm ai tập tành đầu cơ mà sạch vốn.

đồ thị tiền tệ tỷ giá đồng Euro / Swiss Franc (CHF)
Đồ thị tiền tệ tỷ giá đồng Euro / Swiss Franc (CHF)

Nếu nhìn đồ thị tiền tệ tỷ giá đồng Euro / Swiss Franc (CHF) thì thấy tính trung bình từ năm 2012 đến đầu tháng 01/2015, Thụy Sĩ vẫn còn duy trì tỷ giá 1 EUR = 1,20 Franc Thụy Sĩ (CHF), thực tế họ đã thả neo đồng CHF kể từ tuần thứ 3 của tháng 01/2015 rồi, sau đó mãi tới ngày 15/09/2015, Ngân hàng trung ương Thụy Sĩ (SNB) họ đã chính thức "ly khai" từ bỏ tỷ giá cố định tối thiểu là 1,20 CHF = 1 EUR, khi đồng EUR sụt giá quá nặng vì nợ nần Hy Lạp và nhiều nước trong khối kinh tế đồng Euro. Hiện nay 1 EUR = 1,09364 CHF (ta xem như 1 EUR = 1,09 CHF).

Phương Thơ, Morgan Stanley (NYSE: MS)

12 thg 3, 2016

Giới thiệu 3 chỉ số Dow Jones và kinh nghiệm sơ đẳng phân tích giá vàng, giá dầu qua ví dụ

Giới thiệu 3 chỉ số Dow Jones và kinh nghiệm sơ đẳng phân tích giá vàng, giá dầu qua ví dụ phân tích:

"DOW JONES ĐÓNG CỬA CUỐI TUẦN TĂNG 218,18 ĐIỂM THÚC ĐẨY CỦA GIÁ DẦU TĂNG, CHẶN ĐÀ TĂNG CỦA GIÁ VÀNG".

Ta cần nhắc lại là Chỉ số Dow Jones, có 3 chỉ số để đo 3 ngành công nghiệp khác nhau của thị trường Mỹ, nó bao gồm:
-       Chỉ số Dow Jones Transportation Average: chuyên theo dõi các công ty hàng không, vận tải đường bộ và vận chuyển hàng hóa;
-       Chỉ số Dow Jones Utility Average: chuyên theo dõi 15 cổ phiếu, liên quan đến lĩnh vực điện lực và tiện ích đa dạng, nó chủ yếu theo dõi lãi suất ảnh hưởng giá đến các công ty đến lĩnh vực tiêu dùng tiện ích hàng ngày.
-       Riêng đối với chỉ số Dow Jones Industrial Average (DJIA): đây là chỉ số chứng khoán được theo dõi chặt chẽ nhất tại thị trường Mỹ và thế giới. Nó chuyên theo dõi giá cổ phiếu của 30 công hàng đầu của Mỹ, nó bao gồm: Boeing, Wal-Mart, Disney, 3M, American Express, Apple, Caterpillar, Chevron, Cisco, Coca-Cola, DuPont, Exxon, GE, Goldman Sachs, Home Depot, IBM, Johnson & Johnson, JP Morgan Chase, McDonald, Merck, Microsoft, Nike, Pfizer, Procter & Gamble, Travelers, United Technologies, UnitedHealth, Verizon, Intel, và công ty dịch vụ tài chính Visa.

Trong ngày 19/05/2015, chỉ số DJIA đóng của đạt mức đỉnh cao nhất của nó 18.312,39 điểm kể từ mức đáy thấp nhất 6.594,44 điểm vào ngày 05/03/2009, kể từ cơn hoảng loạn sợ hãi vào tháng 09/2008, khi ngân hàng đầu tư Lehman Brothers tuyên bố phá sản, các ngân hàng và các nhà đầu tư kéo tiền ra đến $ 144 tỷ từ các quỹ bảo hiểm, các quỹ tại các thị trường tiền tệ Phố Wall, dẫn đến thị trường gẫn như bị đổ vỡ. Thị trường trái phiếu bị rút khỏi $ 957 tỷ. Nó gây ra nhiều cơn hoảng loạn. Tuy nhiên đến giữa năm 2010, giới đầu tư lại mua vào $ 800 tỷ trái phiếu các doanh nghiệp Mỹ, và gần $ 500 tỷ cổ phiếu tại Wall Street, và cứ thế tăng lên.
Trong thời gian gần đây, cụ thể là trong năm ngoái, tức năm 2015, chỉ số Dow Jones giảm 531 điểm vào ngày 21/08/2015, chốt ở mức 16.459,75 điểm. Đến ngày 24/08/2015, thì chỉ số DJIA đã giảm một lúc 1.089 điểm xuống 15.370,33 trong vài phút giao dịch đầu tiên. Đây là cú giảm nhanh nhất trong lịch sử của nó kể từ năm 2008 - 2009.
Trong phiên giao dịch hôm thứ Sáu, chỉ số công nghiệp Dow Jones tăng được 1,28% chốt ở mức 17.213,31 điểm. Tính chung trong tuần thì chỉ số DJIA tăng được 1,21%. Toàn bộ cổ phiếu trong tổng số 30 đại công ty niêm yết giá chứng khoán trên sàn Dow Jones đều tăng, chỉ có 2 mã chứng khoán của tỷ phú Warren Buffett là giảm. Cụ thể là Wal Mart (WMT) giảm $ 0,24 cho mỗi cổ phiếu, trong khi Procter & Gamble (PG) giảm $ 0,53 cho mỗi cổ phiếu.

Trong khí cụ đầu tư và đầu cơ, giới phân tích tài chính và chứng khoán Wall Street rút ra kinh nghiệm rằng, bất kể sự tăng giảm đột ngột nào của chỉ số công nghiệp Dow Jones đều đẩy giá hàng hóa, kể cả vàng tăng giảm theo. Nhất là giá vàng luôn di chuyển ngược chiều với chỉ số chỉ số công nghiệp Dow Jones thay vì trước đây là đồng USD. Giá vàng hôm qua sụt giảm 1,061%, nó thúc đẩy sự tăng giá chứng khoán trên sàn Dow Jones.
Kinh nghiệm cho thấy trước đấy là vào tuần thứ 3 của tháng 05/2015, chỉ số DJIA đóng của đạt mức đỉnh cao nhất của nó 18.312,39 điểm, đã thúc đẩy áp lực lên giá vàng rơi vào lãnh thổ con Gấu, có lúc vàng về mức 1.049,50 USD một ounce. Như tôi đã phân tích khá lâu, là giá vàng đang được hưởng những ưu thế ở thị trường con Bò, nhưng vàng vẫn không hấp dẫn giới đầu tư giàu kinh nghiệm đầu tư vào vàng. Lý do chi phí để kiếm lời khi đầu tư vào vàng là quá cao. Đó là bởi vì hiện nay các nhà đầu tư phải bỏ ra ít nhất 1.259,40 USD một ounce, và có thể nhận ngay lập tức hình phạt rất nặng khi giá vàng sụt giảm chỉ cần giảm 1,06% phải trả giá mất gần $ 14 cho một ounce vàng. Trong khi chi phí đầu tư cho cổ phiếu trang trải với giá $ 90 là cao, cũng có thể nhận được mức lời rất lớn nếu giá cổ phiếu tăng được 1,06% hay có khi là 3,7%.

Kinh nghiệm cho thấy, giá vàng thường bị chi phối bởi các chu kỳ điều chỉnh của các thị trường chứng khoán, thậm chí giá vàng đảo chiều tăng mạnh khi các thị trường chứng khoán lớn rơi vào "lãnh thổ con Gấu", nhất là thị trường chứng khoán Mỹ, đặc biệt là chỉ số chứng khoán Dow Jones, nó chuyên theo dõi hiệu suất của 30 công ty hàng đầu của Mỹ.
Nói chung, khi đầu tư vào vàng, ta không quên theo dõi giá chứng khoán các quỹ ký thác vàng, các công ty khai thác vàng. 
Cụ thể ta theo dõi cổ phiếu của SPDR Gold Trust (GLD) trên thị trường NYSE, và NASDAQ; hay cổ phiếu của Goldcorp Inc (NYSE: GG), là một nhà sản xuất vàng. Công ty được tham gia vào các hoạt động tìm kiếm thăm dò, phát triển và mua lại các tài sản kim loại quý ở Canada, Hoa Kỳ, Mexico, Trung và Nam Mỹ, là công ty sở hữu mỏ vàng lớn nhất thế giới tính theo giá trị thị trường hiện nay, để theo dõi đơn đặt hàng, và các tài khoản ký thác vàng của giới đầu tư.

Kể từ khi bong bóng vàng nổ ra ngày 05/9/2011, và vàng đạt mức cao kỷ lục mọi thời đại của $ 1.895 một ounce, thì giá cổ phiếu của SPDR Gold Trust đạt mức 183,24 USD, và tính từ tháng 04/2011 trở đi đến cuối năm, giá cổ phiếu của SPDR Gold Trust tăng được 27%. Qua năm 2012 thì sụt giảm 32%, năm 2013 thì bốc khói 22%, năm 2015 thì sụt hơn 11%, tuy nhiên trong tháng 01/2016, giá cổ phiếu của GLD tăng vọt được gần 18%, do thị trường chứng khoán Mỹ và thể giới rơi vào sự điều chỉnh nặng nề.
Cụ thể các sự điều chỉnh chứng khoán toàn cầu từ chỉ số chứng khoán Nikkei 225, nó chuyên theo dõi hiệu suất của 225 công ty hàng đầu tại trường chứng khoán Tokyo Nhật, khi Nikkei 225, rồi đến tại Âu châu, từ London đến Paris, Frankfurt giảm điểm tệ nhất. Cụ thể các chỉ số chứng khoán lớn tại Âu châu như chỉ số FTSE 100 tại London, CAC 40 tại Paris, chỉ số DAX trên thị trường chứng khoán Frankfurt, và chỉ số chứng khoán Euro Stoxx 50, chuyên theo dõi hiệu suất của 50 công ty Blue-chip dựa vào 12 quốc gia khu vực đồng Euro: Pháp, Đức, Áo, Bỉ, Phần Lan, Hy Lạp, Ireland, Italy, Luxembourg, Hà Lan, Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha đã giảm nặng nề.

Tại TTCK Thượng Hải và Thẩm Quyến người ta phải ngưng chơi stock vì nổ cầu chì đầu năm vì giá chứng khoán sụt giảm kinh hoàng. Điều này thúc đẩy giá vàng bốc lên trời. Nhất là TTCK Mỹ đầu năm tưởng như đã rơi vào lãnh thổ con Gấu và nằm ở đó hết hết năm 2016. Nói chung, đầu tư vào vàng qua ký quỹ, mua qua bán lại trong kỳ hạn ngắn nó không đơn giản nếu thiếu nghiệm vụ phân tích tài chính và chứng khoán Mỹ cũng như các thị trường tài chính và chứng khoán thế giới.

Đối với giá dầu, giá dầu thô WTI Crude Oil (Nymex) tại Bắc Mỹ đã tăng hãi hùng kể từ tuần thứ 2 của tháng 02, đến ngày 11/03/2016, thì tăng được 35% và đang chốt ở mức $ 38.49 / thùng. Các kỳ hạn giao dịch hợp đồng về giá dầu từ năm 1985 - 2016, mà các thị trường và các ngân hàng đầu tư môi giới gửi cho EIA, và được lưu tại đây:


Phương Thơ, Morgan Stanley (NYSE: MS)

11 thg 3, 2016

PHÂN TÍCH LÃI SUẤT FED FUNDS RATE, LÃI SUẤT CỦA 19 NƯỚC THÀNH VIÊN SỬ DỤNG ĐỒNG EURO

Về lý thuyết, ta đều biết giả dụ nếu một ngân hàng trung ương họ cắt hạ lãi suất, và vế bên kia là một ngân hàng trung ương khác tăng lãi suất. Điều đó có nghĩa là tư bản tài chính sẽ giải kết và sẽ chảy về phía quốc gia mà ngân hàng trung ương đó tăng lãi suất (nó chỉ áp dụng cho các nước có đồng tiền mạnh như đồng EUR, USD, JPY, RMB,...).
Điều này dẫn đến, việc ngân hàng trung ương quốc gia tăng lãi suất, khiến đồng bạc có giá trị cao hơn (chỉ áp dụng cho đồng USD, EUR, JPY, RMB), nó sẽ làm cho hàng nhập khẩu từ các quốc gia có đồng bạc mạnh hơn nhiều khi nhập khẩu hàng hóa, và giảm chi phí nhờ đồng bạc có giá, tuy nhiên xuất khẩu sẽ bị yếu đi do cạnh tranh thấp vì bán hàng đắt vì đồng tiền đắt có giá. Đó chỉ là lý thuyết thôi.

Ta hết sức thận trọng, đó là trong năm 2015 vừa qua, Mỹ đã xuất khẩu được 2,23 nghìn tỷ USD = 2.230.000.000.000 USD (nhưng xuất khẩu của Mỹ chỉ chiếm khoảng 13% với sản lượng kinh tế GDP). Đó là gần bằng mức xuất khẩu đỉnh cao nhất của TQ trong năm 2014, khi TQ xuất khẩu được 2.343.000.000.000 USD (2.343 tỷ USD). Một mức xuất khẩu vượt trội so với TQ và 28 nước thành viên EU cộng lại.

Tuy nhiên, Mỹ phải nhập khẩu đến 2.762 tỷ USD hàng hóa, tức là lớn hơn hơn mức xuất khẩu của Mỹ không bằng mức nhập khẩu chênh nhau đến 532 tỷ USD. Điều có có thể đoán rằng Fed sẽ có thể tăng lãi suất ngắn hạn mà không cần quan tâm đến yếu tố ngoại thương. Thực chất Fed đang là ngân hàng trung ương của các các ngân hàng trung ương của thế giới. Đó là bởi vì các thống đốc ngân hàng trung ương các nước của khối các nền kinh tế lớn mới nổi "BRICS" gồm: Brasil, Nga (Russia), Ấn Độ (India), Trung Quốc (China) và Nam Phi (South Africa).

Hay cả các nước nằm trong hồ sơ các chỉ số MSCI Emerging Market Index. Chỉ số này theo dõi giá trị vốn hóa thị trường của tất cả các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán của các nước. Cụ thể là sự theo dõi kết hợp của 21 quốc gia thị trường mới nổi: Brazil, Chile, Trung Quốc, Colombia, Cộng hòa Séc, Ai Cập, Hungary, Ấn Độ, Indonesia, Malaysia, Mexico, Morocco, Peru, Philippines, Ba Lan, Nga, Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan và Thổ Nhĩ Kỳ,...yêu cầu Fed thân trọng tăng lãi suất "Fed Funds Rate" điên cuồng tới bốn lần trong năm 2016, lên 1,25%. Nói theo ngôn ngữ ở nhà tại VN là "chỉ tiêu đề ra".

Đó là bởi vì hiện nay các tài sản vay nợ niêm yết bằng đồng USD sau vụ khủng hoảng kinh tế tại Mỹ năm 2008 cho đến nay đã chiếm đến 42,7%, các khoản vay nợ vì đồng USD khi đó còn rẻ và lãi suất hạ.

Trong hành động mới đây của ECB, khi cắt hạ tỷ lệ tiền gửi tổ chức cho các ngân hàng của châu Âu đã lên mức cao trào tiêu cực là âm -0.4% từ mức âm -0,3%. Điều đó có nghĩa là các ngân hàng thương mại sẽ phải tự trang trải những phí tổn để trả lãi suất 0,4% trên số tiền này cho thân chủ ký thác tiền gửi, thay vì thân chủ được trả lãi. Đó là bởi vì người dân Âu châu không phải là con Bò ngu đến mức phải cho người khác vay tiền mà mình phải trả phí, như trường hợp tại VN đòi manh nha áp dụng.

Trong động thái này, các chiến lược gia của Morgan Stanley (NYSE: MS) cũng đã từng làm cho Fed, cảnh báo, nếu tăng lãi suất đồng USD sẽ đẩy giá dầu và giá hàng hóa suy giảm, dẫn đến nhiều tiêu cực cho các ngân hàng tại Mỹ và Âu châu khi đã cho vay ra đến 7.000 tỷ USD để đầu tư vào các giếng dầu và cho các chính phủ khác vay tiền, họ sẽ phải trang trải các khoản nợ nần tốn kém hơn, nó không có lợi cho nền kinh tế Mỹ lúc này. Dù Fed tăng lãi suất, trước mắt sẽ có lợi cho một số ngân hàng đầu tư Mỹ nắm giữ trái phiếu niêm yết tài sản bằng đồng USD.

Bất cứ động thái tăng lãi suất quá mạnh tại Mỹ đều dẫn đến việc giới đầu tư bán tống bán tháo các tài sản niêm yết bằng đồng nội tệ các nước và chuyển qua hình thức mua trái phiếu Mỹ dồn dập, khiến cho một số nước bị suy sụp mất thanh khoản để trang trải và trả nợ các khoản vay bằng đồng USD là cực kỳ nguy hiểm, vì đồng nội tệ các nước sẽ bị sụt giá nặng nề. Cho nên Mỹ phải thể hiện trách nhiệm của một cường quốc với tư cách là nhà phát hành đồng tiền chung của thế giới. Điều đó có nghĩa là Fed đã bán mình cho thiên hạ, và nguồn tin đáng tin cho thấy Fed chỉ tăng lãi suất tượng trưng trong năm 2016, chỉ một lần đó là chỉ tăng 25 điểm cơ bản, tức là tăng 0,25%, có lẽ là thời điểm hết năm 2016.

Về việc phân tích lãi suất LIBOR khá phức tạp, và rất chuyên môn, có lẽ thời điểm nào đó tôi sẽ phân tích cho độc giả khí cụ đầu tư nhiều tai tiếng này, còn về phân tích lãi suất của ECB ấn định, trong động thái mới nhất họ gửi cho các ngân hàng đàu tư thành viên, trong đó có Morgan Stanley với văn bản, nhưng tôi chưa ghi lại nên có đường dẫn cho các độc giả tại VN tìm hiểu hiệu suất di chuyển của lãi suất 19 nước thành viên dùng chung đồng EUR từ năm 1999 -- 2016, do ECB gửi đường link cho Morgan Stanley. Link: www.ecb.europa.eu/stats/monetary/rates/html/index.en.html

Nếu có điều kiện gặp đồng nghiệp là chiến lược gia phân tích rủi ro kinh tế toàn cầu Roger Nightingale tại Pointon York, tôi sẽ phân tích rủi ro 3 nền kinh tế Âu châu - Mỹ - Trung Quốc cho quý vị. Và mong rằng sẽ không xẩy ra, nếu kinh tế thế giới không bị sụp đổ, có lẽ nếu sụp đổ lần này nó xuất phát từ Âu châu, hay TQ.

Phương Thơ, Morgan Stanley (NYSE: MS)

DNNY vận tải thủy 2015 đã thoát “nạn” bán tàu?

Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp vận tải thủy năm 2015 ghi nhận những tín hiệu khả quan khi nguồn thu từ hoạt động chính được cải thiện. Cả doanh thu và lãi gộp toàn ngành cùng tăng trưởng.

Tuy nhiên lãi ròng toàn ngành sụt giảm đến 40%, còn 923 tỷ đồng trong năm 2015 do ảnh hưởng từ kết quả kém khả quan của VOS cũng như hụt thu từ hoạt động tài chính và thu nhập khác. Ngành này đã không còn những “chiến dịch” bán tàu rầm rộ như năm trước.
Theo thống kê của Vietstock, có 8/14 doanh nghiệp vận tải biển tăng trưởng lãi ròng năm 2015 so với năm trước. Tuy nhiên, với khoản lỗ khủng gần 300 tỷ đồng của VOS đã kéo lãi ròng toàn ngành tụt dốc gần 40%, ghi nhận con số 923 tỷ đồng.
Tổng quan kết quả kinh doanh 2015 của DNNY vận tải thủy
Không còn những “chiến dịch” bán tàu rầm rộ như năm trước, lãi ròng vận tải biển giảm đáng kể cùng kỳ.
EPS 2015 của 14 DNNY vận tải thủy
Nguồn: BCTC quý 4/2015 của các doanh nghiệp, riêng VIP không công bố EPS trong BCTC
Hoạt động chính khởi sắc
Có thể thấy năm 2015, ngành vận tải biển hụt đi rất nhiều từ thu nhập khác. Thống kê cho thấy chỉ có VNAVST thực hiện bán tàu nhằm cứu vớt hoạt động kinh doanh, giảm đi rất nhiều so với con số 7 doanh nghiệp trong năm 2014. Thay vào đó, hoạt động kinh doanh chính đã khởi sắc nhờ tăng cường khai thác thêm những tuyến vận chuyển mới, có nguồn thu ổn định.
Bãi Vòng là cảng trung chuyển hành khách lớn nhất của Phú Quốc. Để du lịch từ Hà Tiên hoặc Rạch Giá đến Phú Quốc du khách đều phải đến cảng Bãi Vòng. Theo đó, việc định hướng hòn đảo ngọc này thành một trong những đặc khu kinh tế, phát triển mạnh về du lịch khiến nhu cầu vận chuyển hàng hóa lẫn con người đi Phú Quốc không ngừng tăng.
Điểm sáng của ngành năm qua chính là SKG, nhờ nhập mới tàu Supedong VIII vào tháng 1/2015, mở thêm tuyến Rạch Giá-Nam Du và tăng cường 3 xe bus vận chuyển khách từ Bãi Vòng về Dương Đông vào giữa năm mà Công ty đã tăng trưởng mạnh về doanh thu lẫn lợi nhuận với lần lượt 36% và 70%, đạt 305 tỷ và 175 tỷ đồng.
GMD và PVT tiếp tục là những ông lớn góp mặt gần 60% doanh thu và hơn 80% lợi nhuận toàn ngành. GDM tuy tăng trưởng doanh thu gần 20% khi đạt 3,582 tỷ đồng nhưng do nguồn thu tài chính không còn đột biến như năm ngoái (bán Gemadept Tower) qua đó lãi ròng 2015 giảm đi 24%, đạt 401 tỷ đồng.
Giảm nguồn thu “bên lề” từ hoạt động tài chính và lợi nhuận khác, năm 2015, hoạt động kinh doanh chính của PVT vẫn ổn định nhờ nguồn hàng vận chuyển từ nhà máy lọc dầu Dung Quất, các tàu cũng không phát sinh sửa chữa định kỳ giúp doanh thu và lãi ròng tăng trưởng trên 7%, đạt 365 tỷ đồng.
Kết quả kinh doanh năm 2015 của 14 DNNY vận tải thủy
Thu nhập khác của các DNNY vận tải thủy giai đoạn 2013-2015
VIP là doanh nghiệp có lãi ròng sụt giảm mạnh nhất năm 2015 với gần 75%, đạt 56 tỷ đồng. Nguyên nhân chính do năm trước, Công ty có khoản thu nhập khác nhờ bán tài sản gắn liền với đất thuê dự án Cảng Đình Vũ hơn 350 tỷ đồng.
Còn trường hợp của GSP và HTV dù doanh thu tăng không nhiều nhưng lãi ròng vẫn tăng mạnh. Trong đó, GSP gia tăng mạnh doanh thu cung cấp dịch vụ - hoạt động có biên lãi gộp cao cùng với lãi từ hoạt động tài chính và lãi khác, góp phần đưa lãi ròng đạt 54 tỷ đồng, tăng hơn 70%, mức cao nhất trong các DNNY vận tải thủy. HTV cũng cải thiện biên lãi gộp từ 19% lên 24% và được hoàn nhập giảm giá chứng khoán, qua đó lãi ròng cả năm đạt 34.4 tỷ đồng, tăng hơn 30%.
Đáng chú ý, MHC hưởng lợi từ việc thanh lý các khoản đầu tư tài chính với 39 tỷ đồng (trong đó có khoản lãi chuyển nhượng cổ phiếu HAH) nhưng lại không còn thu nhập khác từ việc chuyển nhượng bến số 2 (51 tỷ đồng) như năm trước. Bù trừ thì kết quả lãi ròng của MHC vẫn có sự tăng trưởng với 9%, đạt 77 tỷ đồng. Trong năm qua, MHC đã phình to các khoản đầu tư chứng khoán kinh doanh của mình từ vài trăm triệu đồng lên 150 tỷ đồng sau khi có sự thay đổi lớn trong cơ cấu cổ đông. Ngược lại, đầu tư vào công ty liên doanh, liên kết của MHC giảm từ 138 tỷ xuống còn 25 tỷ đồng.
Vẫn ám ảnh nợ vay
Tổng tài sản tính đến 31/12/2015 của các doanh nghiệp vận tải thủy tăng nhẹ 1%, nợ phải trả thuyên giảm được 3%. Tuy nhiên trong số đó, nợ vay vẫn còn chiếm 70% tổng nợ, tương đương hơn 15,415 tỷ đồng.
Tình hình vay nợ của các doanh nghiệp năm qua đã có sự dịch chuyển đầy áp lực khi thay đổi từ dài hạn qua ngắn hạn. Nợ vay ngắn hạn đã tăng hơn 8%, ngược lại vay dài hạn giảm gần 11%. SKG, TCO và HTV là những doanh nghiệp đưa con số nợ vay dài hạn về mức gần như bằng 0; tương tự, MHC cũng giảm đáng kể hơn 95% từ mức 20 tỷ xuống còn khoảng 1.5 tỷ đồng.
Tổng tài sản và nợ vay của các DNNY vận tải thủy tính đến 31/12/2015
Tỷ lệ nợ phải trả/tổng nguồn vốn của các DNNY vận tải thủy tính đến 31/12/2015
GMD và PVT tuy có hàng ngàn tỷ đồng nợ nhưng tỷ trọng nợ/vốn chỉ duy trì ở mức trung bình ngành (39%).
VFR, VNA và VOS là 3 doanh nghiệp lỗ trong năm 2015 với chi phí tài chính cao, đặc biệt là lỗ tỷ giá. Riêng VOS có chi phí tài chính hơn 262 tỷ đồng khiến Công ty lỗ ròng gần 300 tỷ trong năm 2015, ăn mòn phần lớn lợi nhuận của toàn ngành.
Cả VOS và VNA có tỷ lệ nợ thuộc Top cao nhất ngành với trung bình 80% tổng nguồn vốn. Trong đó, chiếm phần lớn là nợ vay dài hạn với lần lượt là 2,522 tỷ và 559 tỷ đồng.
Vận tải thủy là một trong những khâu quan trọng của hoạt động logistics. Trong một báo cáo ngành logistics vào giữa năm 2015, FPTS nhận định việc ký kết các thỏa thuận thương mại tự do và dòng vốn FDI lớn đổ vào lĩnh vực sản xuất sẽ giúp thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam. Cùng với đó, nền kinh tế tăng trưởng, nhu cầu trong nước hỗ trợ cho sự phục hồi trên diện rộng của hoạt động sản xuất. Thương mại hiện đại ngày càng mở rộng mạng lưới. Bên cạnh đó, với việc hoàn thành một loạt các dự án cơ sở hạ tầng sẽ tạo ra tác động đáng kể trong việc cải thiện công suất và tính hiệu quả của các cảng biển./.
Trần Hạnh - Vietstock

10 thg 3, 2016

HỘI CHỨNG KHỦNG HOẢNG NỢ NỀN KINH TẾ THẾ GIỚI


Trong bối cảnh nợ nần chồng chất của khối công nghiệp hóa EU, Mỹ, Nhật Bản, và cộng thêm TQ, một quốc gia mới nổi, với tư cách là nền kinh tế lớn thứ 2 trên thế giới còn thiếu phẩm chất, khi các quốc gia này tung ra các biện pháp bơm tiền kiểu QE, với khẩu hiệu "Call it Quantitative Easing -- Indefinitely" (gọi nó là QE -- vô hạn định), trừ trường hợp Anh, Mỹ là đã thu hồi biện pháp QE này, thì những nước còn lại chưa thấy dấu hiệu kết thúc, mà còn gia tăng bơm nợ của khối kinh tế khu vực đồng Euro.

Đối với khối kinh tế khu vực đồng Euro. Trong động thái mới đây, Chủ tịch ECB, Mario Draghi, cho biết Ủy ban Kinh tế và Chính sách Tiền tệ của Nghị viện châu Âu sẽ nhóm họp để xem xét các biện pháp chính sách tiền tệ hiện nay đang làm sẽ cần phải được xem xét lại tháng 03/2016 này, là tăng trưởng và triển vọng lạm phát khu vực đồng Euro trở nên tồi tệ. Tuy nhiên ECB đã loan báo sẽ tiếp tục duy trì mức lãi suất tỷ lệ tái cấp vốn chuẩn ở mức thấp kỷ lục mà ECB giữ nguyên 0,05%. Trong khi tiền gửi lãi suất âm tiêu cực -0,30%, và ECB tiếp tục chương trình mua tài sản đã thi hành vào ngày 21/01/2016 và sẽ giữ nguyên trong thời gian dài đáng kể cho đến khi nào tỷ lệ lạm phát lý tưởng của ECB lên đến 2% như Nhật, Mỹ mơ ước thì ECB mới thu hồi biện pháp QE này.
Điều đó chắc chắn ECB sẽ tiếp tục mở rộng chương trình mua tài sản 60 tỷ EUR hàng tháng cho đến ít nhất là đến tháng 03/2017. Có nghĩa là ECB sẽ tiếp tục tạo ra nợ để cứu khối kinh tế khu vực đồng EUR.
Tuy nhiên, đối với các nước Âu châu, tỷ lệ nợ các hộ gia đình so với GDP đã tăng quá mức cho phép. Hãy nhìn xem, các khảo sát của các tổ chức thẩm định trái phiếu và các ngân hàng đầu tư Âu châu, Mỹ, Nhật khảo sát cho thấy ngay cả những nước có thu nhập cao và giàu có, đang thực hiện chính sách lãi suất âm tiêu cực, có tỷ lệ nợ các hộ gia đình so với GDP là quá cao. Nó bao gồm các nước: Thụy Sĩ âm (-0,75%); Đan Mạch âm (-0,65%); Thụy Điển âm (-0,50%); Nhật âm (-0,10%); Bulgaria (0%). Khu vực các nước dùng chung đồng Euro (0,05%), thực tế nó đang áp dụng cho tỷ lệ tái cấp vốn chuẩn của ECB quy định, tuy nhiên tiền gửi ký thác bằng đồng EUR âm tiêu cực ở mức -0,30%, dự kiến trong tháng 03/2016 này ECB có thể hạ thêm 10 điểm cơ bản lãi suất tiền gửi bằng đồng EUR xuống mức âm -0,40%. Những nước này có tỷ nợ các hộ gia đình so với GDP, đến hết quý 3 của năm 2015, như: Thụy Sĩ số nợ của hộ gia đình theo GDP là 124,20%; Đan Mạch (122,90%); Nhật (65,80%); Bulgaria (80%); Khu vực các nước dùng chung đồng Euro (60,90%).

Các nước Á châu cũng cao đáng ngại, như Hàn Quốc thì nơ đến 90%,... TQ thì cũng đu càng theo khi tập vay nợ từ chưa tới 5% vài năm trước thì nay vọt lên gần 40%,...thì đúng là đáng báo động.
Tuy nhiên dáng lo ngại, mức nợ theo đồng lương thu nhập của các hộ gia đình và cá nhân khu vực các nước dùng chung đồng Euro đã lên đến 95,66%. Các nước có mức nợ theo đồng lương thu nhập của các hộ gia đình từ 100% -- 290%, xếp theo thứ tự từ thấp đến cao, nó bao gồm: Pháp, Đức, Bỉ, Áo, Phần Lan, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Vương quốc Anh, Canada, Ireland, Luxembourg, Hà Lan, Na Uy, Thụy Sĩ, Thụy Điển, New Zealand, Cyprus, hay vô địch đội sổ là Đan Mạch với nợ 290% theo mức lương thu nhập,....Thậm chí ngay cả nước Nam Phi cũng đu theo nợ, khi nợ đến 84%.

Ta còn nhớ trong cuộc khủng hoảng nợ nần năm 2008 - 2009 tại Mỹ, khi tỷ lệ nợ các hộ gia đình theo phần trăm trên GDP đã tăng vọt lên vào quý cuối cùng của năm 2007, khi đạt mức cao nhất mọi thời gian của nó là 95,50%, khiến các hộ gia đình và các cá nhân tại Mỹ bớt chi tiêu để trả nợ, và 1 năm sau nó cũng là một nguyên nhân trong nhiều lý do gây ra khủng hoảng niềm tin dẫn đến người ta lo trả nợ mà ít chi tiêu dẫn đến sức tiêu dùng nội địa yếu, khiến nền kinh tế Mỹ và các nước Âu châu trôi vào suy thoái nặng vì nợ nần quá nhiều.

Trong khi đó các nước châu Á đã khôn khéo hơn các phần khác của nền kinh tế thế giới khi họ đã học ra nhiều bài học khủng hoảng kinh tế cách đây gần 19 năm. Đây là những lý do quan trọng nhất là thực tế rằng khu vực nền kinh tế các nước Á châu này chưa bao giờ trải qua một cuộc khủng hoảng tài chính kể từ khi cuộc khủng hoảng "đòn bẩy tài chính hoặc vay nợ" (financial leverage or debt financing) nổ ra ở châu Á năm 1997, đã đánh sụt sự giảm giá tài sản của dân Á châu đến 60% ngay những ngày đầu suy thoái thì nay khối nợ đang tích lũy ngày càng lớn và chưa giải kết trả nợ.

Điểm nổi bật của các ngân hàng tại châu Á, nói chung, họ đã có kinh nghiệm từ khủng hoảng tài chính năm 1997, nên tránh được nuông chiều quá mức trong đầu tư chứng khoán dưới chuẩn của các sản phẩm tài chính độc hại đã gây ra chao đảo một số ngân hàng nổi tiếng nhất của Wall Street. Đối ngược lại thì các nước châu Á, họ biết tổ chức cho vay đối với các công ty có ảnh hưởng rộng toàn cầu khiến nền kinh tế tăng trưởng cao tại nước họ, nhưng các công ty lớn này đang gặp vấn đề về nợ quá lớn, chủ yếu các công ty nhà nước tại TQ.

Hiện nay các nước Á châu, họ đã mau chóng quên đi bài học đó tồi tệ đó, vì các khoản vay quá dễ dãi từ việc đồng USD suy yếu, khi đồng USD đã giảm 40% trong giai đoạn 2002--2008, hiện nay đồng USD đã tăng lại giá trị của nó tuy chưa phải chạm mức 100 của chỉ số USDX.

Bây giờ, giới phân tích tài chính đang rung chuông cảnh báo rằng nợ trong khu vực châu Á đang tăng lên với tốc độ chóng mặt đáng lo ngại dựa trên tỷ lệ tín dụng ngân hàng so với GDP, thì tỷ lệ đòn bẩy tài chính hoặc vay nợ cao hơn rất nhiều so với lúc cao điểm trước khủng hoảng châu Á năm 1997. Cộng thêm vào phát hành trái phiếu kỷ lục trong những năm gần đây của các nước Á châu là rất bất thường và đáng lo ngại. Ở một số nước Á châu, nợ tư nhân lẫn công quyền đang tăng lên với tốc độ mất kiểm soát kể cả tại VN nữa.
Các nước này có các khoản cho vay khu vực tư nhân đến nay đã tăng chóng mặt, mức tăng nợ này không suy giảm mà còn tăng lên rất lớn cả Âu châu và Mỹ. Trong đó, dẫn đầu là Trung Quốc hiện nay có mức tăng chóng mặt không ai còn biết là tăng bao nhiêu. Thủ phạm gây ra mức tăng nợ này đối với TQ và Việt Nam, được đổ lỗi là do doanh nghiệp nhà nước gây ra.

Ta thận trọng, khác với châu Á, các nước Âu châu - EU, Mỹ, cộng thêm Nhật Bản, các món nợ của các quốc gia này đã được gia tăng ở một số khía cạnh vì những lý do hoàn toàn hợp lý vì tỷ lệ lạm phát thấp, nếu không nói là giảm phát. Các khoản nợ của họ là nợ bằng đồng nội tệ, thí dụ như nợ bằng đồng EUR của các nước dùng chung đồng tiền EUR, Mỹ thì nợ bằng đồng nội tệ USD của họ, Nhật chủ yếu nợp bằng đồng yên (JPY), nên các nước này không bị áp lực trả lãi cao khi vay nợ nhiều.
Cho nên, không ngạc nhiên, việc vay và cho vay đã được khuyến khích bởi lãi suất siêu thấp để lạm phát tăng lên một mức hợp lý 2%, và mức nợ tăng lên là kết quả thúc đẩy tiêu dùng nội địa tăng lên, khi nền kinh tế tăng trưởng, và nợ có xu hướng tăng theo. Giá tài sản có tuy có thể bị thổi phồng bóp méo như bong bóng chứng khoán, các bong bóng tài chính phái sinh, nhưng không đáng lo ngại vì không quá rủi ro do lạm phát ở Âu, Mỹ, Nhật là thấp.

Đối với các nước Á châu, có nhiều lý do để lo lắng về những gì đang xảy ra ở châu Á. Đó là bởi vì các nền kinh tế châu Á đang đòi hỏi rất nhiều nợ để tiếp tục đạt tăng trưởng cao, một dấu hiệu cho thấy châu Á không còn là "sức khỏe miễn nhiễm" về kinh tế, như tốc độ tăng trưởng GDP của các nước Á châu này vẫn còn phụ thuộc vào tín dụng cao, nợ nhiều hơn để cần thiết để tạo ra những phần trăm tăng trưởng GDP cao hơn các nền kinh tế đã phát triển là Âu, Mỹ, Nhật rất lớn, và các nền kinh tế Á châu lại phụ thuộc nặng vào thị trường Mỹ, Âu châu, nếu xuất khẩu yếu đi thì nợ càng chất thêm nợ.
Hiện nay với TQ, và một số nước Á châu, kế hoạch kích thích kinh tế dựa vào tín dụng và dựa vào đầu tư rất cao làm cho những quốc gia này có mức tăng trưởng cao nhưng kém phẩm chất và sinh ra nợ là rất lớn, nhất là TQ, họ chưa bước vào chu kỳ trả nợ như các nước Âu châu, Mỹ, Nhật Bản, đó mới là điều đáng ngại khi quả bom nợ của TQ bị bể vỡ.
Với TQ, một đầu máy tăng trưởng của khu vực Á châu, thật quá rõ ràng, nước này rất dễ dàng để giữ mức tăng trưởng cao khi hoạch định chính sách bơm tiền vào nền kinh tế để đầu tư, tài trợ cho các dự án than đá, sắt thép, bất động sản dư thừa của các doanh nghiệp nhà nước hoặc để xây dựng cơ sở hạ tầng trải rộng hoang phí.
Đó là bởi vì trong năm ngoái, TQ đã sản xuất ra 803.8 triệu tấn thép, chiếm đến 49,5% tổng số thế giới (Nguồn: Hiệp hội Thép Thế giới). Tuy nhiên theo Tân Hoa Xã, một kênh thông tin quốc doanh do Bắc Kinh làm tổng biên tập đưa tin ngày 04/02/2016 thì Trung Quốc sản xuất ra khoảng 1,2 tỷ tấn tấn thép. Nó dư thừa khoảng 400 triệu tấn thép, đo là lớn hơn sản lượng thép của 4 nước Hoa Kỳ, Nhật Bản, Ấn Độ, và Nga cùng một nước khác cộng lại.
Một mô hình đầu tư dư thừa vào tăng trưởng như vậy chắc chắn sẽ dẫn đến một cuộc khủng hoảng nợ, nếu số thép đó bán ế và hư hỏng, chứ chưa nói đến các lĩnh vực sản xuất dư thừa khác. Các khoản tiền được sử dụng không hiệu quả, mức nợ tăng lên, công suất dư thừa của sản xuất được tạo ra, và cuối cùng, hệ thống sẽ sụp đổ và ảnh hưởng đến toàn vùng Á châu là điều không tránh khỏi.
Các nước châu Á, nhất là TQ muốn giữ phép lạ kinh tế của họ, thì cần phải thực hiện một số cải cách khá nghiêm trọng và chấp nhận mức tăng trưởng thấp, hướng vào thị trường tiêu dùng nội địa với hàng tỷ dân thay vì trông cậy xuất khẩu vào thị trường Mỹ, EU đang ngày ít chi tiêu hơn.
Nếu không, châu Á và TQ có thể tìm thấy những sa lầy trong nhiều vấn đề để cuối cùng đi vào vết xe đổ do khủng hoảng nợ gia tăng quá mức. Hiện nay các nước châu Á đã không đạt được lợi nhuận đáng kể trong thu nhập người dân trong những năm gần đây, dù châu Á ngày càng có nhiều tỷ phú đô la tăng nhiều nhất thế giới, nhưng người nghèo cũng cao nhất thế giới.

Phương Thơ, Morgan Stanley (NYSE: MS)

PPC & HT1 - Cổ phiếu chạy theo “sóng tiền tệ”

Chính sách tiền tệ của thế giới sẽ tác động như thế nào đến các CP đang được giao dịch trên TTCK Việt Nam?

Tháng 3-2016 trở nên nóng bỏng với hàng loạt ngân hàng trung ương lớn trên thế giới họp về chính sách tiền tệ. Trong đó, 3 “ông lớn” gồm Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) họp ngày 10, Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BOJ) họp ngày 14 và 15, Cục dự trữ Liên bang Hoa Kỳ (FED) họp ngày 15 và 16, sẽ công bố chính sách tiền tệ của mình. Chính sách tiền tệ của thế giới sẽ tác động như thế nào đến các CP đang được giao dịch trên TTCK Việt Nam?


PPC - lướt sóng theo JPY
Giá CP CTCP Nhiệt điện Phả Lại (PPC) ít chịu ảnh hưởng bởi những yếu tố như sản lượng điện, giá điện, mà liên quan đặc biệt với tỷ giá yen Nhật (JPY) so với USD. Nguyên nhân do nợ bằng ngoại tệ của PPC khá lớn, tính đến cuối năm 2015 khoảng 23,2 tỷ USD, tương đương 4.300 tỷ đồng.
Chỉ cần tỷ giá USD/JPY biến động 10%, khoản nợ của PPC sẽ biến động khoảng 200 tỷ đồng. Với khoản lợi nhuận gộp từ 450-500 tỷ đồng trong giai đoạn 2009-2015 (ngoại trừ năm 2013 và 2015 quanh mức 1.000 tỷ đồng), khoản biến động tỷ giá tạo ra sự thay đổi rất lớn trong lợi nhuận của PPC. Trong quá khứ, đỉnh điểm vào năm 2009, PPC còn bị lỗ vì JPY mất giá.


Biểu đồ 1: Giá CP PPC (phải) và cặp tỷ giá USD/JPY (trái).
Biểu đồ 1 minh họa mối quan hệ giữa giá CP PPC với cặp tiền tệ USD/JPY. Khi USD/JPY tăng (JPY mất giá so với USD) sẽ khiến CP PPC tăng giá theo. Do Việt Nam thực hiện chính sách neo tỷ giá trong biên độ hẹp của VNĐ so với USD, nên khi JPY mất giá so với USD cũng đồng nghĩa mất giá với VNĐ.
Có thể nhận thấy từ khi đồng JPY mất giá mạnh vào cuối năm 2012, lúc Nhật Bản tung chính sách Abenomics, giá của CP PPC tăng vọt. Khi BOJ tung ra các gói QE vào tháng 4-2013 và tháng 10-2014 là những lần tỷ giá USD/JPY tăng mạnh, khiến giá CP PPC cũng tăng vọt theo. Tháng 7-2015 là bước ngoặt lớn đối với PPC, khi đồng JPY tăng giá trở lại khiến giá CP PPC sụp giảm mạnh. Quý III-2015 là giai đoạn giá CP PPC sụt giảm mạnh nhất khi lỗ hơn 200 tỷ đồng vì JPY mất giá.
Cuối tháng 1-2016, BOJ thông báo thực hiện chính sách lãi suất âm (NIRP). Về lý thuyết, điều này được BOJ kỳ vọng sẽ làm mất giá đồng JPY và kích thích tăng trưởng kinh tế của Nhật Bản. Nhưng thực tế hoàn toàn trái ngược. Đồng JPY không có dấu hiệu mất giá mạnh như khi BOJ thực hiện các gói QE trước đây mà thậm chí còn tăng mạnh trong 3 lần vào giữa tháng 2. NIRP thực sự đang thất bại thảm hại. Vấn đề hiện nay là các trader (nhà giao dịch) không còn lòng tin vào khả năng can thiệp của BOJ trong vấn đề tiền tệ.
Ông Shinichiro Kadota, chiến lược gia ngoại hối của Barclays ở Tokyo, nói: “Khả năng hùng biện cũng như sự can thiệp thông qua việc nới lỏng định lượng chỉ tạo nên biến động lớn hơn trong tỷ giá nhưng không làm hạ giá đồng JPY”. Ông Kadota cũng cho rằng tỷ giá USD/JPY vẫn sẽ tiếp tục giảm bất kể sự can thiệp nào từ phía Tokyo. Đồng tình quan điểm này, ông Mohi-uddin, chiến lược gia tiền tệ của Royal Bank of Scotland Group tại Singapore, nói: “Trừ khi FED tăng lãi suất trở lại trong năm nay, còn không JPY vẫn tiếp tục tăng giá”.
Sở dĩ JPY tăng giá vì nhiều NĐT vẫn xem đồng tiền này là tài sản an toàn. Ngay cả khi USD được dự báo tăng giá mạnh với nhiều ngoại tệ khác trong thời gian tới, đồng bạc xanh vẫn yếu hơn so với JPY. Thực ra, sự tăng giá của JPY không chỉ làm suy yếu TTCK Nhật Bản mà cả TTCK toàn cầu, trong đó có Hoa Kỳ. Các nhà quan sát nhận thấy cặp USD/JPY có độ tương quan cao với SP500 vì chiến lược carry trade (kinh doanh chênh lệch giá).
Theo đó, khi JPY mất giá các trader sẽ bán ra để chuyển sang mua CK Hoa Kỳ hoặc các tài sản định danh bằng đồng USD. Ngược lại, khi JPY tăng giá, các trader bán CK Hoa Kỳ và USD để quay trở lại JPY. Ngân hàng Barclays, nhà giao dịch tiền tệ lớn thứ ba thế giới, dự báo tỷ giá USD/JPY vào cuối năm nay có thể về 95 so với 113 hiện nay (tức JPY sẽ tăng giá mạnh). Với kịch bản trên, PPC được dự báo còn tiếp tục suy giảm trong năm 2016.

HT1 chạy theo EUR
CTCP Xi Măng Hà Tiên (mã HT1) là một doanh nghiệp lớn trong ngành xi mặng Việt Nam. Mặc dù số dư nợ ngoại tệ bằng EUR của HT1 đã giảm xuống mức 69 triệu USD ở thời điểm cuối năm 2015 so với 116 triệu EUR (gần 1.700 tỷ đồng) trong giai đoạn 2009-2011, nhưng kết quả kinh doanh của HT1 vẫn còn phụ thuộc nhiều vào tỷ giá EUR. Với dư nợ 1.700 tỷ đồng bằng EUR, chỉ cần đồng tiền này biến động 10%, kết quả kinh doanh của HT1 đã thay đổi 170 tỷ đồng.
Trong khi đó, lợi nhuận gộp của HT1 có biến động khá đều từ 1.300-1.600 tỷ đồng từ 2011-2015, sau khi trừ chi phí bán hàng và quản lý (300-500 tỷ đồng mỗi năm), lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh của HT1 biến động từ 800-1.300 tỷ đồng. Do đó, tác động của sự biến đồng EUR đến HT1 tuy không phải là trọng yếu nhưng không hề nhỏ.

Biểu đồ 2: CP HT1 (phải) và cặp tỷ giá EUR/USD (trái).
Trong 2 năm gần đây, giá HT1 vẫn biến động mạnh theo diễn biến của đồng EUR. Thí dụ, từ tháng 4-2014 đến tháng 3-2015, khi tỷ giá EUR/USD giảm từ 1,4 xuống gần 1, giá HT1 tăng trưởng đột biến bởi đồng EUR mất giá đem lại khoản lợi tỷ giá cho HT1.
Nhiều điểm đảo chiều trong giá CP HT1 rất sát với các điểm đảo chiều trong cặp tỷ giá EUR/USD như ngày 25-8-2015, 18-11-2015 và gần đây là ngày 3-2-2016. Hôm nay (10-3), ECB sẽ có cuộc họp về chính sách tiền tệ và theo dự báo của Business Insider, khả năng ngân hàng này tiếp tục cắt giảm lãi suất trong vùng thêm 0,1% xuống mức -0,4%. Khả năng ECB cắt giảm thêm lãi suất cùng với số liệu việc làm phi nông nghiệp ở Hoa Kỳ tháng 2 tốt hơn dự báo mang lại kỳ vọng FED không tăng lãi suất trong tháng 3, nhưng đồng USD vẫn mạnh lên so với các tiền tệ khác.
Việc EUR có khả năng giảm giá so với USD trong thời gian tới có khả năng sẽ giúp CP HT1 có được sự hỗ trợ tích cực. Hoặc chí ít HT1 sẽ không bị giảm sâu nếu như TTCK Việt Nam giảm giá mạnh khi đồng USD mạnh lên.

Theo Trương Minh Huy
Sài Gòn Đầu Tư Tài Chính

____________
Ghi chú, cơ hội mua PPC, HT1 khi:

-       *** Nếu đồng USD mạnh lên so với các đồng tiền khác như JPY, EUR

=> Tỷ giá USD/JPY, USD/EUR tăng;
(Hay) ngược lại, tỷ giá JPY/USD, EUR/USD giảm.

Nếu trường hợp này xảy ra, thì đồng nghĩa với việc đồng JPY, EUR bị mất giá so với đồng USD.

Do Việt Nam thực hiện chính sách neo tỷ giá trong biên độ hẹp của VNĐ so với USD, nên khi JPY hay EUR mất giá so với USD cũng đồng nghĩa mất giá với VNĐ => số nợ ngoại tệ của PPC (nợ JPY) hay HT1 (nợ EUR) được hưởng lợi từ tỷ giá => MUA PPC, HT1.


-       Các yếu tố thúc đẩy đồng USD mạnh lên như FED nâng lãi suất, đồng tiền các nước bị mất giá,..