29 thg 9, 2016

Cam kết của OPEC cắt giảm sản lượng chỉ giúp giá dầu tăng ngắn hạn, nhưng cơ hội thay đổi nguồn cung trong dài hạn không nhiều

Đón nhận thông tin OPEC thỏa thuận cắt giảm sản lượng sau nhiều năm thì gần như mọi sự chú ý chỉ tập trung tại nhóm cổ phiếu Dầu khí. PVD, PVS, GAS,  PXS là những cố phiếu được giao dịch mạnh nhất trong nhóm Dầu khí khiến dòng tiền không còn tập trung ở nhóm Ngân hàng, Chứng khoán, VLXD như các phiên trước. Các chỉ số của thị trường tăng ở mức cao cho đến khi xuất hiện rung lắc khá mạnh trước khi bước vào phiên ATC. Khi đó VN-Index nhanh chóng giảm về còn 685,9 điểm và bật lại về vùng 688 điểm trước khi đóng cửa. Chốt phiên, VN-Index tăng +1,83 điểm (+0,27%) trong khi HNX-Index tăng +0,75 điểm (+0,89%).
Thanh khoản tăng nhẹ lên mức 3.540 tỷ đồng tính chung 2 sàn. Với diễn biến tích cực tại nhóm Nhựa bên cạnh nhóm Dầu khí. Các cổ phiếu thuộc các nhóm ngành khác có diễn biên trái ngược nhau, nhưng chủ yếu là giảm giá so với hôm qua khi bị bán chốt lời khá mạnh trong phiên chiều. Về phía giao dịch của khối ngoại, NĐTNN bất ngờ mua ròng lần lượt +34,7 tỷ tại HOSE và +15,8 tỷ tại HNX. Nhóm cổ phiếu được mua ròng mạnh có MSN, SSI, NT2, BVH, PVS trong khi KBC, HPG, HSG bị bán ròng không đáng kể.
Nhìn chung, hôm nay thị trường phân hoá trên diện rộng. Ngoài nhóm Dầu khí tăng đồng loạt ra diễn biến tích cực phần còn lại của thị trường vẫn nghiêng về các cổ phiếu có triển vọng tích cực trong những tháng cuối năm như DHG, PNJ, GMD…Nhóm thuỷ điện bao gồm CHP, SHP, SJD…cũng diễn biến tích cực so với thị trường chung.
Hầu hết TTCK Châu Á tăng hôm nay sau khi giá dầu hồi phục trước kỳ vọng cắt giảm sản lượng. Trừ thị trường Ấn Độ giảm do quân đội nước này phát đi thông báo sẽ thực hiện tấn công phe ly khai Kashmir. Gía dầu Brent giao dịch trên thị trường Châu Á lại giảm 0,9% khi xuất hiện hoài nghi cách thức các tổ chức sản xuất dầu mỏ thi hành việc cắt giảm sản lượng vẫn còn bỏ ngõ. Goldman Sachs nhận định trong báo cáo gửi nhà đầu tư cho rằng cam kết của OPEC cắt giảm sản lượng chỉ giúp giá dầu tăng ngắn hạn, nhưng cơ hội thay đổi nguồn cung trong dài hạn không nhiều.

Chúng tôi cũng ghi nhận lại nhận định của Ông Phillipp Chladek, Chuyên gia phân tích ngành cao cấp từ Bloomberg Intelligence nhằm giúp nhà đầu tư có góc nhìn đa chiều về cam kết cắt giảm sản lượng lần này của OPEC
Việc OPEC cắt giảm sản lượng chỉ giúp ổn định tâm lý thị trường, không làm cân bằng cung cầu thị trường dầu mỏ
Sản lượng dầu mà OPEC quyết định cắt giảm tại cuộc họp ở Algiers (750.000 thùng/ngày) là rất nhỏ so với tổng lượng dầu mà các nước thành viên OPEC sản xuất, hơn 33,2 triệu thùng/ngày. Động thái này có thể xem như là một biện pháp nhằm cải thiện tâm lý thị trường chứ không nhằm khôi phục lại cân bằng cung cầu trên thị trường dầu mỏ. Iran không nằm trong các nước cắt giảm sản lượng, và có những dấu hiệu cho thấy rằng Libyan sẽ tăng xuất khẩu trở lại, cung cấp thêm hàng trăm ngàn thùng dầu mỗi ngày.
Các công ty chịu tác động: Để duy trì sự ảnh hưởng lên thị trường, các nước OPEC phải đạt được thỏa thuận cắt giảm sản lượng sau khi thất bại tại cuộc họp vào tháng 4 ở Doha. Thị trường dầu có thể sẽ hồi phục sau quyết định của OPEC, giá dầu sẽ cần phải đạt đến khoảng 60 USD/thùng nhiều tháng trước khi dầu đá phiến của Mỹ tái sản xuất trở lại
Biểu đồ 1

Nguồn: Energy Intelligence
Việc thiết lập hạn mức sản xuất dầu mới của OPEC không giúp giải quyết các vấn đề cố hữu
Quyết định cắt giảm sản lượng dầu của OPEC chỉ đơn thuần sử dụng lại giải pháp cũ để giải quyết vấn đề nan giải ban đầu dù đây là quyết định có ảnh hưởng mạnh đến việc thiết lập mức trần sản xuất mới. Quyết định này không giải quyết những điểm yếu chính trong chiến lược trước đó của OPEC về sản lượng đầu ra: các nước thành viên của tổ chức OPEC tạo nên thói quen xấu khi không thực hiện đúng về sản xuất dầu theo hạn mức được cam kết trước đó. Sản lượng dầu sản xuất do đó thường cao hơn so với mức kế hoạch, gây bất lợi cho những nước thành viên giữ đúng cam kết. Tổ chức này sẽ phải tìm ra giải pháp tốt hơn để thống nhất về tổ chức sản xuất dầu.
Các công ty chịu tác động: Nhà sản xuất dầu lớn nhất thế giới đang niêm yết là Rosneft, một công ty được điều hành bởi chính phủ Nga, với 4.1 triệu thùng dầu mỗi ngày, tiếp đến là Petro China (2,7 triệu thùng), Petrobras (2,2 triệu thùng), ExonMobil (2,1 triệu thùng, Lukoil (2,1 triệu thùng), BP (1,9 triệu thùng), Chevron (1,7 triệu thùng) và Shell (1,5 triệu thùng). (cập nhật ngày 29/9/2016)
Biểu đồ 2

Nguồn: Bloomberg
Sản lượng dầu đá phiến của Mỹ sẽ chưa hồi phục nhanh sau quyết định cắt giảm sản lượng của OPEC
Giá dầu tăng cao sau quyết định cắt giảm sản lượng của OPEC không chắc sẽ khiến sản lượng dầu đá phiến của Mỹ hồi phục trong ngắn hạn. Nhiều hãng khai thác ở vùng nông thôn sẽ phải mất từ vài tuần để huy động nhân công lẫn thiết bị.  Mức giá duy trì trên 50 USD/thùng sẽ làm cho nhiều giếng dầu hoạt động lại ảnh hưởng tới việc giá dầu phục hồi và sản lượng sẽ tăng rõ hơn từ năm 2017.
Các công ty chịu tác động: các công ty có vốn hóa lớn ở Bắc Mỹ bao gồm ConocoPhillips, Occidental, Hess, Noble, Marathon và Murphy. Tất cả đều đang hoạt động khai thác dầu đá phiến tại Bắc Mỹ và các dự án khác trên toàn thế giới.
Biểu đồ 3

Nguồn: US Department of Energy, Energy Intelligence, Bloomberg
(Bloomberg)
Tóm lại: 
Với những thỏa thuận tích cực ban đầu của cuộc họp OPEC, nhóm cổ phiếu dầu khí có thể sẽ khởi sắc hơn trong thời gian tới và dần lấy lại vị thế dẫn dắt thị trường.
  • Nhìn chung, nhóm cổ phiếu dầu khí đã giảm mạnh từ Q3/2014 đến nay và mặt bằng giá đang ở mức thấp so với mặt bằng chung của thị trường
  • GAS là cổ phiếu tăng mạnh nhất trong nhóm dầu khí và dần quay về mức đỉnh cao trong năm 2015 là 75.0
  • PVD, PVS, PXS thường là những cổ phiếu nhạy với diễn biến của giá dầu nhất. Trong đó, PVS được xem là cổ phiếu có yếu tố hỗ trợ cả ngắn và trung hạn, đặc biệt mức định giá hiện nay là khá thấp hơn so với các cổ phiếu cùng ngành. Ngoài ra, PXS sẽ có tính đầu cơ cao nhất trong nhóm dầu khí và PVD sẽ giảm rủi ro hơn khi giá dầu hồi phục trở lại, nhưng dự kiến tình hình kinh doanh sẽ còn tiêu cực trong 6 thang cuối năm.

Vinh cho rằng việc giá dầu tăng ngắn hạn có thể lên 60$/thùng sẽ là cơ hội để nhóm cổ phiếu dầu khí tăng giá (PVD GAS PVS PXS...). Nhà đầu cơ lướt sóng xem đây là cơ hội để đầu cơ cổ phiếu nhóm dầu khí này.

_____________________________
Bạn không bao giờ quá già hoặc quá trẻ để đầu tư vào chứng khoán!

Liên hệ với chúng tôi theo địa chỉ:

Dương Trọng Vinh (Mr.)
Chuyên viên tư vấn chứng khoán

CTCP Chứng khoán Sài Gòn (SSI)
1C Ngô Quyền, Q. Hoàn Kiếm, TP. Hà Nội, Việt Nam
Di động & Zalo & Viber: 0975271089
Email: vinhdt@ssi.com.vn
Skype: vinhduong89
Facebook: https://www.facebook.com/dautruongtaichinh
Website: www.dautruongtaichinh.com

28 thg 9, 2016

Góc nhìn Sóng Elliott với một số cổ phiếu Uptrend - Tập 1

Góc nhìn Sóng Elliott với một số cổ phiếu Uptrend:
+ Uptrend ngắn hạn, trung & dài hạn: LHG, HTI, CTI, VGC, DHC, GIL. (nhóm cp vượt đỉnh, cơ bản tốt mà tôi ưa thích nhất).
+ Uptrend ngắn hạn: DRC, CSM, SRC.
+ Cp biến động giá kỳ vọng theo thanh khoản TTCK giao dịch sôi động: SSI, VND.
+ Cp biến động giá theo giá dầu thô WTI Crude Oil (Nymex) tại Bắc MỹGAS.

(nếu có quý nhà đầu tư quan tâm về sóng Elliott về cp nào khác, hãy gửi submit mã cổ phiếu cho tôi qua SMS, Email hay FB,...).
Xin cảm ơn!

















Bạn không bao giờ quá già hoặc quá trẻ để đầu tư vào chứng khoán!

Liên hệ với chúng tôi theo địa chỉ:
======================
Dương Trọng Vinh (Mr.)
Chuyên viên tư vấn chứng khoán

CTCP Chứng khoán Sài Gòn (SSI)
1C Ngô Quyền, Q. Hoàn Kiếm, TP. Hà Nội, Việt Nam
Di động & Zalo & Viber: 0975271089
Email: vinhdt@ssi.com.vn
Skype: vinhduong89
Facebook: https://www.facebook.com/dautruongtaichinh
Website: www.dautruongtaichinh.com

13 thg 9, 2016

Cụm từ "Analysts", nó bao hàm rất lớn về kinh nghiệm học thuật mà người ta ít nói ra, vì họ không thích khoe khoang văn bằng

Analysts

Trong bài báo chuyển ngữ ra tiếng Việt dẫn nguồn của trang website Emolument, Business Insider, với lời tựa: "Học ngành nào để làm sếp ở phố Wall?". Nguồn: http://cafef.vn/hoc-nganh-nao-de-lam-sep-o-pho-wall-2016091216005959.chn

Trước hết thì nghề nào cũng là nghề cả, miễn là đừng mơ chuyện vĩ cuồng mà năng lực mình không hiểu về lĩnh vực đó thì sự sụp đổ tan tành là chuyện sẽ diễn ra chậm hay muộn mà thôi vì thói háo danh. Đây là hậu quả của các quả đấm thép của VN bị chảy thành chì, vì quản lý kém, năng lực không có, nhưng đầu tư đủ mọi lĩnh vực ngành nghề, nhất là lĩnh vực tài chính, ngân hàng, chứng khoán,...nhưng trong đầu không hiểu gì cả về "phân tích tài chính và chứng khoán", nhưng họ thừa văn bằng kĩ sư, tiến sĩ cao cấp lý luận luận chính trị,....
Một người đánh cá giỏi lâu năm thì họ sẽ trở thành một thủy thủ giỏi, nếu bắt họ chuyển nghề làm kế toán hay chuyên viên phân tích thì họ sẽ sạch vốn. một nhà phân tích tài chính giàu kinh nghiệm, nếu bắt họ làm nghề đánh bắt cá, họ sẽ bị chết đuối, hoặc bị sóng vật vì không biết bơi, họ sẽ bị chìm xuống biển,...
Chuyện thứ nữa, nếu tôi tài trợ cho một ngư dân đánh bắt cá một chiếc xe hơi hạng sang Audi của Đức, họ sẽ hủy hoại cuộc sống họ, nhưng nếu tôi tặng họ chiếc thuyền đánh cá, họ sẽ làm giàu và hái ra tiền cho chính họ và gia đình.
Cho nên, nghề nào cũng đáng quý cả, miễn là ta kiếm được tiền mà dư tiền đóng thuế cho đất nước để chính phủ có tiền tài trợ cho an sinh xã hội, trả lương cho binh sĩ bảo vệ lãnh thổ, hay mua sắm, đầu tư võ khí để răn đe và giữ gìn lãnh thổ quốc gia mình thì ai cũng là "sếp cả" của thiên hạ cả.
Về chuyên môn đi vào phân tích bài báo này. Trước hết các nhà đầu tư Phố Wall, hay các "sếp Phố Wall" thì đều như nhau cả trong học thuật và đầu tư.
Cụ thể, trong phân tích cụm từ Analysts -- Các nhà phân tích, hay chuyên viên phân tích, nó không phân biệt đẳng cấp "sếp", hay "chuyên viên" nào ở đây cả.
Cụm từ "Analysts", nó bao hàm rất lớn về kinh nghiệm học thuật mà người ta ít nói ra, vì họ không thích khoe khoang văn bằng.
Chẳng hạn, nếu Harvey Mitchell Schwartz - Giám đốc Tài chính và Phó chủ tịch điều hành, hay tiếng Anh là Chief Financial Officer & Executive Vice President (Goldman Sachs), khi họ chủ trì giới đầu tư và cổ đông, và giới đầu tư và các nhà phân tích tham gia đánh giá Goldman Sachs thì họ sẽ ghi Harvey Mitchell Schwartz -- Giám đốc Tài chính và Phó chủ tịch điều hành. Những người khác họ ghi là Analysts, kể cả Jonathan Pruzan - Giám đốc Tài chính và Phó chủ tịch điều hành -- Chief Financial Officer & Executive Vice President (Morgan Stanley). Ngược lại khi Harvey Mitchell Schwartz tham gia đánh giá đối tác khác thì họ ghi Jonathan Pruzan là Analysts, tức chuyên viên hay nhà phân tích.
Trong khi ngược lại, nếu Jonathan Pruzan làm chủ cuộc họp với cổ đông và giới đầu tư cũng như các nhà phân tích thì họ ghi Jonathan Pruzan -- Giám đốc Tài chính và Phó chủ tịch điều hành Morgan Stanley. Những người khác là khách mời thì họ ghi "chuyên viên phân tích".
Nếu trước đây nhiều nhà đầu tư VN thắc mắc người ta ghi Betsy Graseck; Phương Thơ; Morgan Stanley (NYSE: MS), Gary Morrow; Yosemite Asset Management, LLC, Harvey Mitchell Schwartz (Goldman Sachs), Dane E. Holmes - Head of Investor Relations at Goldman Sachs (Trưởng phòng quan hệ đầu tư của Goldman Sachs), họ đều ghi -- Chuyên viên phân tích tài chính và chứng khoán (nếu họ là khách mời đại diện cho giới đầu tư và cổ đông). Tức là không phân biệt ai là sếp ai cấp này cấp kia cả, vì ai cũng cổ phần môi giới và đầu tư vào đó cả.
Một thí dụ chẳng hạn, họ không bao giờ phải ghi là Betsy Graseck; Phương Thơ; Morgan Stanley (NYSE: MS) -- Tốt nghiệp thạc sĩ chuyên ngành tài chính Đại học Cornell, cộng thêm văn bằng chứng chỉ CFA charterholder, và CMT -- Thành viên Hiệp hội PTKT Hoa Kỳ (MTA), hoặc do Hiệp hội phân tích chứng khoán của Dow Jones. Thực tế những nhà đầu tư giàu kinh nghiệm thì chẳng bao giờ muốn ở cái Thành viên Hiệp hội PTKT Hoa Kỳ (MTA) vớ vẩn đó làm gì cả.
Kế đến là họ cũng chẳng ghi thêm nà là văn bằng khác như cử nhân thuế, cử nhân ngoại ngữ tiếng Nga, hay nói viết thông thạo 4 thứ tiếng như tiếng Pháp, Đức, Ý hay tiếng Việt (tiếng Anh không ghi, vì ngôn ngữ của họ là tiếng Anh),.. Tức là chả ai mất công ghi những thứ vớ vẩn đó cả, vì nó đã có trong hồ sơ rồi, và hầu như những ai đã là Analysts, họ đều trải qua kinh nghiệm thực tế rồi.
Ở VN thì cái bệnh sùng bái văn bằng và thích khoa trương, dù rằng năng lực kinh nghiệm thì không có, họ ghi ra nào ghi ra giáo sư, tiến sĩ, thạc sĩ, biết nói tiếng Anh,...nói chung họ khai ra tất cả, kể cả,... nó không cần thiết vì sẽ xem thường người khác kế bên, vì người kế bên đôi khi họ còn nhiều văn bằng và tài sản hơn,...
Ngoài chuyên viên phân tích ra thì còn có cụm từ "chiến lược gia". Tức là ám chỉ những nhà phân tích kinh tế, hay tài chính chỉ chuyên nghiên cứu sâu rộng một vài thị trường. Thí dụ chiến lược gia phân tích thị trường TQ, Nhật Bản về một lĩnh vực, thí dụ như lĩnh vực kinh tế, hoặc lĩnh vực trái phiếu,...họ không kiêm nhiệm nhiều chức vụ, hay phân tích lĩnh vực khác nữa,...

Phương Thơ, Morgan Stanley (NYSE: MS)

12 thg 9, 2016

TÍNH RA GIÁ TRỊ ĐỒNG USD ĐỂ LÀM GÌ?

Bài này chúng tôi không phân tích về khí cụ đầu tư FED tăng lãi suất Fed Funds Rate nữa mà đã phân tích nhiều lần rồi. Kể cả các khi cụ đầu tư rất chuyên môn như ảnh hưởng của tác động của lãi suất ngắn hạn liên ngân hàng LIBOR áp dụng cho các đồng tiền niêm yết bằng đồng USD, đồng EUR, JPY, Krona Thụy Điển (SEK), Franc Thụy Sĩ (CHF), đồng Bảng Anh (GBP). Ngoài ra còn kể đến tác động rất lớn khi FED tăng giá cước lãi suất Fed Funds Rate thì các trung tâm tài chính khác có lãi suất ngắn hạn liên ngân hàng rất lớn như Tokyo (TIBOR), Mumbai (MIBOR), Singapore (SIBOR), và Hồng Kông (HIBOR),... cũng sẽ ảnh hưởng và phải thay đổi lãi suất đó. Tại Âu châu, nhất là các nước dùng chung giấy bạc đồng EUR, hãy nhớ rằng họ còn hai loại lãi suất ngắn hạn liên ngân hàng rất tinh vi như lãi suất Euribor, và lãi suất Eonia (chủ yếu niêm yết bằng đồng EUR). Chú ý là lãi suất Eonia ta có thể được xem như là tỷ lệ lãi suất Euribor có kỳ hạn qua đêm.
Trước hết đặc tính người Mỹ có văn hóa là tuyên truyền sản phẩm văn hóa của Mỹ từ chính trị, khoa học, công nghệ, và nhất là kinh tế ra thế giới.
Về tỷ giá hối đoái của đồng USD so với các đồng tiền còn lại, đó là hầu hết các đồng tiền các quốc gia trên thế giới đều neo vào đồng USD tùy mức độ nặng nhẹ để tính ra giá trị ngoại thương và tỷ giá hối đoái đồng tiền của các nước họ sao cho có lợi nhất.
Đó là bởi vì, hầu hết các hợp đồng giao dịch hàng hóa trên thế giới đều được định giá bằng đồng USD, chẳng hạn như giao dịch commodities như vàng, dầu thô, đồng, sắt thép, cà phê,...đều được định giá bằng đồng USD. Cho nên có một điều là hầu hết hững giá thương phẩm hàng hàng hóa commodities thường tăng giảm ngược chiều với đồng USD, khi đồng USD suy yếu, giá commodities tăng lên, hoặc khi đồng USD tăng thì giá commodities giảm xuống.
Năm 2008 -- Đồng USD chạm mức thấp kỷ lục của 71,58 vào ngày 22/4 theo DXY, và nó đã đẩy hầu hết giá hàng hóa commodities vọt lên trời. Trong khi vào tuần thứ hai của 3/2015 -- Chỉ số US Dollar Index này tăng lên mức 100,390, nó đẩy toàn bộ thị trường giao dịch commodities rơi xuống vực.
Đối với đồng đô la Mỹ, người ta thường đo sức mạnh của nó với các ngoại tệ chính qua một chỉ số gọi là (USDX, DXY), tức là US Dollar Index. Theo đó, đồng USD được định giá qua một rổ tiền gồm sáu loại ngoại tệ chính, tính theo lối "trung bình gia trọng" của các ngoại tệ trong rổ tiền là đồng Euro (EUR), Yên Nhật (JPY), Bảng Anh (GBP), đồng đô la Canada (CAD), Krona Thụy Điển (SEK), Franc Thụy Sĩ (CHF).
Các chỉ số USDX là một chỉ số so sánh đồng USD với rất nhiều đồng tiền khác nhau như đã nói ở trên. Điều này khác với tất cả các tỷ giá hối đoái, trong đó so sánh chỉ có hai đồng tiền tại một thời điểm. Một cách cụ thể, đó là khi so sánh đối chiếu với từng hoàn cảnh của một quốc gia nào đó trong việc trao đổi với bán buôn với Mỹ giữa đồng USD và đồng tiền nước đó chẳng hạn. Ta cần hết sức thận trọng là phải tính đến việc so sánh tỷ lệ lạm phát hay mức chênh lệch về lãi suất giữa hai quốc gia với nhau khi đồng USD có thể tăng hay giảm, tỷ giá hối đoái lên hay xuống nếu trao đổi với một đồng tiền nước đó buôn bán với Mỹ, thí dụ như USD-VND chẳng hạn.
Trước đây chỉ số USDX bắt đầu ở mức ở mức chuẩn 100 vào tháng 3 năm 1973. Do đó, giá trị hiện tại USDX cho biết phần trăm thay đổi của đồng USD. Một cách cụ thể, vào ngày 9/9/2016, chỉ số USDX đóng cửa ở mức 95,35. Điều này có nghĩa là đồng USD đã mất 4,65% giá trị kể từ năm 1973, khi USDX là 100.
Trong quá khứ USDX có lúc đạt cao nhất mọi thời đại của nó là 163,83 vào ngày 05/3/1985, và mức thấp kỷ lục 71,58 vào tháng 4/2008. Điều đó nó cho biết mức đỉnh cao của chỉ số USDX của đồng USD tăng được 63,83%, và mức đáy của nó là giảm 28,42%.
Để bạn đọc ai cũng có thể hiểu và theo dõi hiệu suất tỷ giá hối đoái của nó ngoài việc phân tích bằng biểu đồ phân tích kỹ thuật, như hình thức phân tích chứng khoán, dầu thô, vàng, trái phiếu,...thì FED còn đưa ra thước đo để tính cho đồng tiền USD qua Foreign Exchange Rates -- H.10, để tính toán rộng hơn cho đồng USD, qua thước đo "Broad Index of the Foreign Exchange Value of the Dollar". Nó chỉ tổng kết hàng năm, nên khác với chỉ số US Dollar Index (USDX, DXY) được tính toàn hàng ngày của thị trường. Xem thêm ở đây: www.federalreserve.gov/releases/h10/weights/default.htm
Về tỷ giá hối đoái đồng Euro so với đồng USD của các nước. Chúng tôi cung cấp đường link về tỷ giá đồng EUR / USD, được lưu lại đầy đủ chi tiết và chính xác nhất về tỷ giá hối đoái của hai đồng bạc là USD và EUR, độc giả muốn nghiên cứu thì xem ở đây trên trang chủ của FED: www.federalreserve.gov/releases/H10/hist/dat00_eu.htm
Ở đây, tôi nhắc lại, để ghi chú chính xác, Cục dự trữ Liên bang -- FED có đưa ra các phương pháp tính cho các loại tiền tệ, chủ yếu là những đồng bạc được giao dịch nhiều nhất về ngoại thương buôn bán với Mỹ, đó là 26 đồng tiền của các quốc gia được FED lựa chọn những đồng chiếm tỷ trọng buôn bán với Mỹ như đồng EUR, RMB (Trung Quốc), Dollar Canada, JPY (Nhật), MXN (Mexico), British Pound (Anh),...
Đối với đồng Yuan của TQ, bạn đọc xem lưu trữ ở đây:
www.federalreserve.gov/releases/h10/hist/dat00_ch.htm, trong khi đồng yên Nhật (JPY), độc giả xem thêm hiệu suất tỷ giá quá khứ của nó ở đây:
www.federalreserve.gov/releases/h10/hist/dat00_ja.htm, đặc biệt hai đồng tiền của Anh quốc và Thụy Sĩ là đồng Bảng Anh (GBP), và Franc Thụy Sĩ (CHF). Các đường link lần lượt là: www.federalreserve.gov/releases/h10/hist/dat00_uk.htm, và www.federalreserve.gov/releases/h10/hist/dat00_sz.htm,...
Thực tế giá trị đồng USD đo ra khá nhiều cách, như tôi hay nói đó là tỷ giá hối đoái, trái phiếu kho bạc của Mỹ và dự trữ ngoại hối của các tổ chức trên thế giới tích trữ bằng đồng USD.
Chẳng hạn nhất là trái phiếu kho bạc Mỹ. Nếu ta thấy rằng một hành động sản lượng cao (năng suất cao), tức là high yield, điều này ta sẽ suy đoán thị trường, giới đầu tư và các tổ chức tài chính không có nhu cầu về đồng USD, tức là họ đang bán trái phiếu kho bạc của Mỹ, thường là kỳ hạn 10-năm, điều này khiến cho đồng USD giảm giá. Ví dụ cụ thể, một động thái sản lượng trái phiếu kho bạc 10-năm của Mỹ từ mức 1,50% tăng lên 3%, ta có thể tính ra rằng đồng USD đang sụp đổ và sẽ giảm giá trị tệ hại của nó.
Hiệu ứng ngược lại, một động thái sản lượng trái phiếu kho bạc 10-năm của Mỹ từ mức 3% giảm xuống còn 1,50% thì ta có thể tính ra rằng đồng USD đang tăng giá rất mạnh. Và ta định nghĩa ngược lại rằng, khi sản lượng trái phiếu kho bạc Mỹ giảm, thì giới đầu tư dang có nhu cầu cao đối với đồng USD, họ đang mua tài sản Mỹ niêm yết bằng đồng USD qua hình thức trái phiếu kho bạc Mỹ, vì dù lời ít do lãi suất thấp, nhưng tiền có giá, vì chẳng ai có thể trả cho bạn vừa lãi suất cao vừa được tiền có giá trị tăng giá cả.
Trên đây là vài yếu tố mà tôi hay lặp đi lặp lại vì hay nhận được thắc mắc của nhiều người tại VN, có lẽ đúng là cái NHNN VN họ đúng là tinh vi khi "chống đô la hóa", "chống vàng hóa", vì người VN tích trữ hai loại tài sản này chắc rất lớn.
Riêng đối với việc lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước VN hay trấn an về tỷ giá hối đoái đồng USD/VND với cam kết hứa , thì tôi ngần ngại nhấn mạnh vấn đề rất tế nhị và rất nhạy cảm rằng, nếu tiền đồng của Việt Nam (VND) có thể bị mất giá đó là quy luật thị trường, nếu như VN hay bị nạn nhập siêu, chính sách phát triển kinh tế thì in tiền vào kinh tế quá lố, nạn bội chi thâm thủng ngân sách vì chi tiêu bừa bãi hơn nguồn thu từ thuế, mức nợ công tăng cao, dự trữ ngoại hối thấp,...
Cho nên người ta không thể hô hào "giữ ổn định tỷ giá", hoặc hay nói úp mở khi thị trường tài chính biến động, khi nói là không nói không phá giá đồng nội tệ VND, mà chỉ nói là "điều chỉnh tỷ giá", nên tránh lối thông tin mờ ảo này vì không đánh lừa được thị trường vì càng nói như vậy khiến thị trường càng suy đoán ngược, và người ta sẽ nghĩ là tỷ giá đồng nội tệ VND sẽ bị giảm sâu nữa nên sẽ dẫn đến những gì mà tôi muốn gọi là “unintended consequences” (hậu quả ngoài ý muốn), là nạn đầu cơ tích trữ USD, vàng, vì ngay cả nhà bác học Albert Einstein lừng danh nhất thế giới còn phủ nhận rằng: "không ai có thể chống lại đám đông, dù họ là những kẻ ngu".
Nhưng mà ngu hay giỏi đi nữa thì mọi quyết định lại nằm trong tay của đám mờ nhạt, vì họ mới là người quyết định mọi thứ, nếu họ thiếu tin tưởng mà ồ ạt rút tiền ra khỏi ngân hàng vì thiếu tin tưởng giấy bạc VND thì có thể khó nói chuyện gì sẽ xẩy ra,...

Phương Thơ, Morgan Stanley (NYSE: MS)

10 thg 9, 2016

THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH VÀ CHỨNG KHOÁN WALL STREET CUỐI TUẦN

THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH VÀ CHỨNG KHOÁN WALL STREET CUỐI TUẦN

Bắc Triều Tiên thử bom hạt nhân vừa răn đe Mỹ, vừa dở bệnh Chí Phèo, tức là ăn vạ xin viện trợ lương thực từ Hàn Quốc, giới chức quốc phòng Mỹ tuyên bố là sẽ không chắc chắn sẽ còn ngăn cản được hai đàn em của Mỹ là Hàn Quốc và Nhật là họ sẽ tuyên bố họ sẽ thủ đắc vũ khí hạt nhân để răn đe, TQ thì lo sợ việc này đó là thứ võ khía hạt nhân này người Nhật có thừa sức sản xuất ra 2.000 quả bom hạt nhân trong thời gian ngắn, vì hiện này Nhật mới là nước tích trữ những thanh phóng xạ nguyên tử lớn nhiều nhất thế giới. Trong khi FED dọa nạt tăng lãi suất đồng USD, thì ECB và BoJ dọa nạt thị trường bằng cách bơm tiền cho ngâp úng cả thành phố Brussels, Tokyo. Điều này đã khiến thị trường chứng khoán thế giới nhảy múa lung tung.
Thị trường tài chính và chứng khoán thế giới mất phương hướng về việc FED có tăng lãi suất cơ bản hay không đến giờ vẫn chưa thể nói là họ có thật sự "điều chỉnh lãi suất" (adjust interest rates), như là tăng (hoặc giảm/giữ nguyên) khi lãnh đạo FED tuyên bố "heightened uncertainty" (không chắc chắn cao).
Giao dịch cổ phiếu tại New York đóng cửa với mức thiệt hại tồi tệ, với chỉ số S & P 500 giảm -2,45%. Dow Jones giảm 2,13%, chỉ số NASDAQ đóng cửa giảm 2,54% và chỉ số Russell 2000 giảm 3,11%.
Thị trường chứng khoán Âu châu nhuộm màu đỏ cũng không khá mấy. Các chỉ số chứng khoán Euro Stoxx 50, chuyên theo dõi hiệu suất của 50 công ty Blue-chip dựa vào 12 quốc gia khu vực đồng Euro: Pháp, Đức, Áo, Bỉ, Phần Lan, Hy Lạp, Ireland, Italy, Luxembourg, Hà Lan, Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha đã giảm 0,98%. Chỉ số FTSE 100 tại London giảm 1,19%, CAC 40 tại Paris giảm 1,12%, chỉ số DAX trên thị trường chứng khoán Frankfurt giảm 0,95%. Thị trường chứng khoán Thổ Nhĩ Kỳ (Borsa Istanbul 100 Index - XU100) giảm 1,01%. Chỉ số chứng khoán MICEX tại Nga, là một chỉ số chứng khoán lớn chuyên theo dõi hiệu suất của 30 công ty lớn nhất của Nga giảm 1,10% do hiệu ứng dầu thô Brent (Brent Crude Oil - ICE) tại London giảm mạnh.
Đồng USD qua chỉ số U.S. Dollar Index (DXY) tăng có lúc vượt 95,40, và hiện nay đứng ở mức 95,35 tức là nó tăng 0,38% đẩy toàn bộ giá hàng hóa giao dịch trên thị trường Commodities như vàng, dầu thô,...sụt giảm tệ hại.
Thị trường giao dịch trái phiếu loại kỳ hạn 10-năm trở lên tiêu cực, khi toàn bộ sản lượng trái phiếu chính phủ kỳ hạn 10-năm của Mỹ, Canada, Đức, Anh, Pháp, Ý, Tây ban Nha, Bồ Đào Nha, Hi Lạp, Hà Lan, Thụy Sĩ, Nhật, Úc, Singapore, Hàn Quốc, Brazil,... đều tăng lên vài điểm phần trăm khá rủi ro. Thậm chí là sản lượng trái phiếu kỳ hạn 10-năm của Đức hết còn rơi vào âm tiêu cực như trước đây nữa, có nghĩa là trước đây giới đầu tư mua trái phiếu kỳ hạn 10-năm do chính phủ Đức phát hành bằng đồng EUR trước đây thì nhà đầu tư phải trả lãi ngược lại cho Đức, bây giờ nó đã tăng lên 7 điểm phần trăm rủi ro, và duy trì ở mức 0,01%. Tức là nước Đức bây giờ phát hành trái phiếu đi vay thì phải trả lãi cho giới đầu tư.
Rủi ro nhất là trái phiếu của chính phủ Brazil, khi nó tăng lên đến 20 điểm phần trăm tiêu cực, và đóng cửa ở mức 12,22%, tức là quốc gia này phải chào lãi cao mới thu hút tiền của giới đầu tư cho vay,...
Đối với dầu khí, kết thúc phiên giao dịch hôm thứ Sáu, giá dầu thô WTI Crude Oil (Nymex) tại Bắc Mỹ đã giảm 1,74 $ / thùng dầu, tức là giảm 3,65%, đóng cửa ở mức còn 45,88 $ / thùng. Trong khi giá dầu thô Brent (Brent Crude Oil - ICE) tại London giảm đến 1,98 $ / thùng, tức là giảm đến 3,96%, đóng cửa ở mức 48,01 / thùng.
Đối với giao dịch cổ phiếu của Energy Select Sector SPDR ETF (XLE) ta xem như là một Exchange Traded Fund (ETF), nó chuyên theo dõi các chỉ số ngành năng lượng, hoặc các lĩnh vực năng lượng của S & P 500 (SPX). Các quỹ đầu tư rất lớn tổng tài sản chung cho cổ phiếu trong dầu, khí tự nhiên và dầu khí Khoan và thăm dò các ngành công nghiệp nó bao gồm: ExxonMobil Corp., Chevron Corp và ConocoPhillips. Giá cổ phiếu XLE đã giảm đi 2,84%, tức là bốc hơi đến 2,04 $, giá đóng cửa ở mức 69,76 $.
Giá cổ phiếu dầu lửa có một ngày giao dịch tiêu cực ngày cuối tuần nhất. Cổ phiếu ngành công nghiệp dầu khí chuyên kinh doanh về giàn khoan dầu của công ty Diamond Offshore Drilling, niêm yết trên sàn NYSE, S&P 500, có mã chứng khoán DO, công ty này có trụ sở tại Houston, Texas và có văn phòng chính tại Úc, Brazil, Mexico, Scotland, Singapore và Na Uy,...giá cổ phiêu công ty này có phiên sụt giảm rúng động khi giảm đến 10,34%, giá đóng cửa còn ở mức 15,60 $.
Đại gia dầu khí ExxonMobil (Dow Jones: XOM) giảm mất 2,21 $/cổ phiếu, giá đóng cửa 86,84 $. Các đại gia dầu khí khác Chevron (Dow Jones: CVX) giảm 2,74%; ConocoPhillips (NYSE: COP) giảm 2,38%; BP plc (NYSE: BP) tại New York giảm 2,08%; tại London BP plc (LON: BP) giảm 1,14%, Royal Dutch Shell (AMS: RDSA) giảm 1,68%; PetroChina (NYSE: PTR) giảm 3,41%.
Toàn bộ các mã cổ phiếu của các công ty dầu khí hạng trung bình và cò con, nhưng công nghệ siêu hiện đại, vốn ít, hiệu quả lớn, gồm Marathon Oil Corp (NYSE, S & P 500: MRO), là công ty năng lượng chuyên tham gia vào việc thăm dò, sản xuất và tiếp thị của hydrocarbon lỏng và khí đốt tự nhiên, sản xuất và bán các sản phẩm được sản xuất từ khí thiên nhiên và khai thác mỏ cát dầu sụt giảm đến 6,39%, chi phí cho mỗi cổ phiếu còn 15,67 $.
Công ty Cổ phần Murphy Oil (NYSE, S & P 500: MUR), là một công ty thăm dò dầu khí và sản xuất với các hoạt động tại Bắc Mỹ, và Malaysia cũng như tất cả các nước khác. Giá cổ phiếu của Murphy Oil đã giảm đi 6,08%. Giá đóng cửa còn 27,94 $.
NRG Energy Inc mã chứng khoán NRG giảm 6,60%, chi phí cho mỗi cổ phiếu còn 11,60 $. Kinder Morgan niêm yết trên sàn NYSE, S & P 500, mã chứng khoán là KMI, đây là công ty điều hành hoạt động đầu tư cơ sở hạ tầng năng lượng và công ty năng lượng ở Bắc Mỹ, nó bao gồm đường ống vận chuyển khí tự nhiên rằng, xăng, dầu thô, khí carbon dioxide và các sản phẩm khác,...giá cổ phiếu của công ty này đã giảm 2,51%. Chi phí hiện tại còn 22,12 $.
Công ty năng lượng Southwestern Energy (S & P 500: SWN), là một công ty chuyên thăm dò năng lượng, và sản xuất khí đốt tự nhiên và dầu thô tại Mỹ. Cổ phiếu công ty này giảm 4,66%. Consol Energy Inc, mã chứng khoán CNX trên sàn S & P 500, chuyên tham gia thăm dò vào dầu khí và sản xuất và khai thác than, giá cổ phiếu sụt đến 6,02%. Chi phí cho mỗi cổ phiếu là 17,80 $.
Riếng đối với Công ty Cổ phần Năng lượng Chesapeake, chuyên thăm dò và sản xuất tự nhiên, sản xuất dầu cũng như chuyên mua lại các hồ chứa ngầm liên qua đến dầu. Giá Chesapeake Energy Corp trên sàn S & P 500 với mã chứng khoán CHK, cổ phiếu của Chesapeake Energy Corp đã giảm 4,04%, chốt còn 3,56 USD. Cổ phiếu của Chesapeake Energy Corp giảm nhẹ 1,55%.
Ta chú ý, mặc dù hầu hết giá chứng khoán của các công ty năng lượng và dầu khí của Mỹ tính từ đầu năm cho đến nay đa số nó phục hồi tăng từ 80% cho đến hơn 100% giá trị của nó. Nhưng mức tăng giảm theo thời gian là khác biệt rất lớn.
Để đơn giản và dễ hiểu, tôi lấy thí dụ nếu giá dầu thô gần cuối tháng 7/2014 nó đổ dốc từ 100 $ / thùng thì có lúc giao dịch vào tuần thứ 2 của tháng 2/2015 gần chạm ngưỡng 25 $/thùng trong ngày thì tuy giá nó giảm 75% nhưng phí tổn giảm của nó rất lớn. Tuy nhiên, nếu ta tính từ cái mốc 25 $ / thùng rồi vọt lại hơn 50 $ thùng trong tháng 6/2016, dù nó tăng chẵn lên 100% nhưng chi phí cộng lại tăng như vậy là không cao.
(*) Mức độ đổ dốc của giá cổ phiếu Diamond Offshore Drilling Inc (NYSE:DO) thật kinh hoàng. Từ mức đỉnh cao trong cuối năm 2009 lên đến 107 $ thì nay chỉ còn 15,60 $, nhưng nó không hề hấn gì, đó là lời ăn lỗ chịu, nếu có phá sản thì đó là chuyện của tư nhân.

Phương Thơ, Morgan Stanley (NYSE: MS)

9 thg 9, 2016

iPhone 7 và iPhone 7 Plus, với "nhiều nâng cấp cho thiết bị" ra đời; Không nhất thiết họ phải đầu tư mua cổ phiếu của Apple, mà họ lại đầu tư vào cổ phiếu các hãng phụ trợ mà Apple đặt hàng

Trong bài báo "Các NHTW đã bơm 9.000 tỷ USD, kinh tế thế giới vẫn chưa thể phục hồi". Nguồn: http://cafef.vn/cac-nhtw-da-bom-9000-ty-usd-kinh-te-the-gioi-van-chua-the-phuc-hoi-20160909155815512.chn, và ở bài báo này tôi đi vào phân tích chuyên môn hơn về kinh tế mà chính lãi rẻ, thậm chí là âm tiêu cực, và in tiền bơm bạc kiểu QE, hay Quantitative easing (tức là nới lỏng định lượng), và nó chỉ thành công cho hai nền kinh tế xưa kia áp dụng là Anh quốc và Mỹ quốc, khi FED và BoE thi hành. Thực tế chính sách kinh tế kiểu QE này chỉ có tác dụng tương tự như việc tăng cung tiền mà thôi. Về các công cụ các mục tiêu của chính sách tiền tệ của Mỹ độc giả xem thêm ở đây: http://www.frbsf.org/education/teacher-resources/us-monetary-policy-introduction/goals/
Trước hết trong phân tích kinh tế thì mỗi người có một chuyên môn, nó giống như hình thức đầu tư, chẳng hạn đầu tư vào chứng khoán, ai có kinh nghiệm và phát minh ra nhiều khí cụ đầu tư thì người đó là kẻ chiến thắng, còn kẻ nào ưa đọc sách thánh hiền như là mang giáo trình kinh tế tư bản và xã hộ chủ nghĩa ra đọc từng chữ từng câu và áp dụng như lý thuyết kinh tế đó thì bất cứ ai cũng là nhà kinh tế như nhau cả. Trước đây khối kinh tế đồng EUR này gặp khủng hoảng nợ và thị trường chứng khoán rơi vào "risk-adjusted" (điều chỉnh rủi ro) thì ECB ra lệnh cấm cấp hộ chiếu cho các nhà đầu cơ Phố Wall đến Âu châu, với lý do, họ sẽ đánh sập thị trường tài chính các nước khu vực đồng EUR chỉ để kiếm tiền,...và ám chỉ các chuyên viên phân tích tài chính và chứng khoán tại Wall Street. Đó là bởi vì ông Thống đốc ECB -- Mario Draghi cũng chỉ từng làm việc cho ngân hàng đầu tư Goldman Sachs (Dow Jones, NYSE: GS) mà ra.
Hãy tưởng tượng trong đầu tư giống như bộ môn kinh tế học. Nếu bạn thấy rằng hãng công nghệ Apple (NASDAQ: AAPL) tung ra sản phẩm gây hào hứng cho giới sành điệu công nghệ qua sản phẩm iPhone 7, và iPhone 7 Plus, với "nhiều nâng cấp cho thiết bị" (many upgrades for the device) và được sự hỗ trợ nguồn cung thiếu khi mà sản phẩm của Samsung phải tạm thời dừng bán Galaxy Note 7 trên toàn cầu do có phản hồi pin bị quá nóng sẽ gây cháy nổ, khiến Apple là kẻ được chú ý và hưởng lợi, tuy nhiên Apple vẫn gặp rủi ro vì các khoản thuế hàng tỷ $ mà Âu châu dọa phạt khiến cổ phiếu có thể giảm giá chứ không tăng.
Nhưng một nhà phân tích giàu kinh nghiệm thì không nhất thiết họ phải đầu tư mua cổ phiếu của Apple, mà họ lại đầu tư vào cổ phiếu các hãng phụ trợ mà Apple đặt hàng như là hãng Cirrus Logic (NASDAQ: CRUS), đang nổi lên hưởng lợi lớn nhất của iPhone 7 khi thiết kế tính năng mới cho âm thanh tai nghe không dây mới cho Apple, cùng nhiều thứ khác và các nhà sản xuất chip cho Apple sẽ được hưởng lợi từ iPhone 7, còn hãng Apple thì là kẻ đỡ đòn. trong phân tích kinh tế cũng vậy, người ta phải tìm ra đúng căn bệnh để mà chữa thì nó mới hiệu quả mà không tốn kém.
Về hồ sơ các ngân hàng trung ương hạ lãi suất âm tiêu cực bị thất bại thì có khá nhiều hướng phân tích đánh giá, giới phân tích cổ điển và các nhà phân tích kinh tế học thì phân tích hướng này, giới phân tích kinh tế và tài chính dùng cho mục đích đầu tư thì họ phân tích hướng khác để đánh cá đầu tư kiếm lời.
Thực tế Nhật Bản là nước đầu tiên sử dụng nới lỏng định lượng -- QE này, đó là từ năm 2001 - 2006 . Nó khởi động lại vào năm 2012 -- khi Shinzo Abe lên làm thủ tướng Nhật. Trong khi Ngân hàng Trung ương châu Âu -- ECB đi theo vết xe đổ này khi họ thông qua biện pháp QE này vào năm 2015, khi mà sau nhiều năm họ thi hành các biện pháp thắt chặt chi tiêu và giảm nợ như các biện pháp thắt lưng buộc bụng của họ trong các nước thành viên dùng chung giấy bạc đồng EUR. Khi đó ECB hứa hẹn sẽ tung tiền mua 60 tỷ EUR trái phiếu niêm yết bằng đồng EUR mỗi tháng, để làm giảm giá trị của đồng EUR nhằm hỗ trợ xuất khẩu cho kinh tế 19 nước thành viên này.
Đối với Mỹ, vào tháng 12/2008 cho đến tháng 10/2014, đó là khi FED tung các gói QE này và bơm 4 nghìn tỷ $ qua hình thức mua trái phiếu kho bạc từ các ngân hàng thành viên, kể cả mua chứng phiếu. Hiện nay, FED đã thu hồi về nhà 1,5 nghìn tỉ $ nợ bơm qua các gói QE mà thôi sau khi FED tăng lãi suất vào Fed Funds Rate vào tháng 12 năm ngoái.
Về phân tích chuyên môn vì sao các mức giá cước lãi suất siêu thấp ngày nay thất bại. Và tôi hay nhắc lại để người ta khỏi lầm lẫn tai hại là hiện nay ECB vẫn duy trì tỷ lệ tái cấp vốn chuẩn ở mức 0.00%, trong khi lãi suất huy động thì âm tiêu cực ở mức giá cước -0,4%, còn lãi suất cho vay của các thành viên là 0,25%. Nhưng lãi suất mà các doanh nghiệp và các cá nhân hay các hộ gia đình trong khối kinh tế dùng chung đồng EUR mà các ngân hàng thương mại cho vay ra là khác nhau, nó do sự quyết định của ngân hàng trung ương mỗi nước. Thí dụ Hi Lạp là 5,48%, Đức là 2,44%, Pháp là 1,88%,...
Nói chung, hệ thống tài chính, các nước dùng chung đồng EUR này có nhiều khí cụ đầu tư và lãi suất khá rắc rối. Đó là họ còn khí cụ đầu tư lãi suất ngắn hạn liên ngân hàng LIBOR niêm yết bằng đồng EUR, tất cả các kỳ hạn từ qua đêm cho đến 12-tháng đều âm tiêu cực, thì còn có hai loại lãi suất niêm yết chủ yếu là bằng đồng EUR cho khối kinh tế này. Cụ thể là lãi suất Euribor, và lãi suất Eonia (hai mức lãi suất này niêm yết bằng đồng EUR hiện nay đều âm tiêu cực với nhiều kỳ hạn).
Tức là khối kinh tế các nước dùng chung đồng EUR này hiện nay rất quái đản. Nhưng dù có in tiền bơm bạc lãi suất hạ thì cũng thất bại, đó là bởi vì các khoản nợ của các hộ gia đình so với GDP tại một số nước này là quá lớn, khiến người dân họ thắt chặt chi tiêu và tăng trả nợ nên ít mua sắm, khiến khối kinh tế này cho dù có hạ lãi suất thấp bán hàng rẻ cũng khó thoát khỏi suy thoái, đó là bởi vì trước đây hầu như kinh tế các nước Âu châu này có mức tăng trưởng kinh tế tốt là chủ yếu đi từ mức tiêu dùng nội địa trong nước chiếm rất cao so với xuất khẩu.
Bây giờ dân số các nước Âu châu này ngày càng lão hóa, tiền tiết kiệm thì tập chung cũng khá nhiều vào các tầng lớp trung niên, các mức lãi suất trước đây niêm yết bằng đồng EUR đều trên con số không, người gửi tiền tiết kiệm còn có kênh đầu tư có lời, và họ có dư tiền nhiều để mua sắm và chi tiêu, còn bây giờ người ta đánh thuế vào tài sản của họ, bắt họ trả phí qua lãi suất âm thì khiến họ càng tiết kiệm hoặc kéo tiền ra tẩu tán tài sản qua nước khác, trong khi độ tuổi lao động sung mãn thất nghiệp tại khối kinh tế đồng EUR này thì cứ duy trì con số trên 10% thì lấy đâu ra người có tiền chi tiêu mua sắm nhằm thúc đẩy tiêu dùng trong các nước này.
Chuyện hi hữu nữa là những nước nằm ngoài khối đồng tiền EUR này như Thụy Sĩ, Thụy Điển, Đan Mạch,... thì lại dư gải tiền bạc, họ hạ lãi suất âm tiêu cực mạnh nhất là Thụy Sĩ (-0,75%), Đan Mạch (-0,65%), Thụy Điển (-0,50%) là không khuyến khích gửi tiền vào ngân hàng mà còn muốn đi gõ cửa tùng nhà cho thần dân và dân chúng nước họ tiền để tiêu vặt.

Phương Thơ, Morgan Stanley (NYSE: MS)

Ông Nguyễn Duy Hưng: 15 năm tới tương lai còn tốt hơn nhiều

(NDH) Lòng tin sẽ quyết định sự thành bại của TTCK. Những người làm ăn chộp giật sẽ không thể phát triển trường tồn, mọi người đừng nghĩ việc mình làm khác điều mình nói mà người khác sẽ tin, thị trường rất sòng phẳng, ai làm gì sớm muộn gì thị trường cũng biết.

Đồng hành với TTCK từ những ngày đầu và là người vận hành CTCK tư nhân đầu tiên tại Việt Nam, ông Nguyễn Duy Hưng, Chủ tịch HĐQT CTCP Chứng khoán Sài Gòn, CTCK lớn nhất trị trường hiện tại đã có những trao đổi với phóng viên NDH về quá trình phát triển của TTCK trong suốt 20 năm qua.
Nhớ lại giai đoạn năm 1997, ông Hưng nghĩ rằng thời điểm đó điều cần nhất ở Việt Nam là làm sao huy động được nguồn vốn càng nhiều càng tốt. Đã từng có thời gian làm việc ở bộ phận phê duyệt đầu tư tại UBND tỉnh Khánh Hoà, ông Hưng hiểu rõ hơn ai hết tầm quan trọng của dòng vốn nước ngoài.
Thời điểm này ông Lê Văn Châu, Chủ tịch UBCK đầu tiên và cũng là “mẹ đẻ” của TTCK Việt Nam đã đi rất nhiều nơi để nghiên cứu vào TTCK và tìm kiếm thành phần tư nhân tham gia TTCK. Thời điểm đó ông Châu đã mời gọi rất nhiều nhưng chỉ duy nhất ông Nguyễn Duy Hưng tham gia. Những ngày lang thang ở Thái Lan để tìm hiểu về cách vận hành của thị trường, ông Hưng đã phải mày mò từ những thứ đơn giản nhất như bảng điện tử làm thế nào, dùng phần mềm gì...
Những năm tháng đồng cam cộng khổ với TTCK khiến ông Hưng giờ đây được mệnh danh là “ông trùm chứng khoán”. Mỗi phát biểu, mỗi hành động của ông Hưng đều được giới truyền thông săn đón. Bản thân SSI đã có sự phát triển thần tốc trong 16 năm đi vào vận hành, từ một CTCK có vốn điều lệ 6 tỷ đồng, giờ đây vốn điều lệ của SSI đã lên đến 4.800 tỷ, với tổng tài sản hơn 13.500 tỷ, thị phần môi giới dẫn đầu cả hai sàn.

20 năm nhìn lại
Là ông chủ của CTCK tư nhân đầu tiên thành lập tại Việt Nam, sau 16 năm vận hành và 20 năm ra đời TTCK, ông có cho rằng TTCK ở thời điểm hiện tại đúng như kỳ vọng của ông thời gian đầu khi bắt tay vào xây dựng thị trường không?
Tôi là một trong số hiếm người bên ngoài được ông Lê Văn Châu, Chủ tịch UBCK đầu tiên của Việt Nam mời tham gia thị trường từ những ngày đầu. Có những lúc hai thầy trò đi nghiên cứu ở Thái Lan đã tưởng tượng câu chuyện thị trường 20 năm tới nhưng không ai có thể hình dung ra thị trường có thể đạt được thành quả như ngày hôm nay. Vốn hóa thị trường đã đạt hơn 1 triệu tỷ đồng, tương đương 35% GDP. Chúng ta có thể huy động được cả tỷ USD trên TTCK còn trước đây, để huy động được vài triệu USD ở Việt Nam rất khó, thậm chí phải qua rất nhiều cấp quan trọng mới được phê duyệt.
Trong những ngày đầu bắt tay vào làm, chưa ai tưởng tượng được việc vận hành TTCK như thế nào, làm thế nào để nhà đầu tư có thể hiểu và tham gia. Trước đây, mọi người nghĩ rằng TTCK là sản phẩm của chủ nghĩa tư bản, để thuyết phục được người dân tham gia và các công ty niêm yết là cả một quá trình.
20 năm qua, mặc dù sự hiểu biết và thói quen của người dân chưa đạt được đến mức coi TTCK là nơi giữ tiền nhưng đâu đấy, nhà đầu tư đã quen với sự vận hành của TTCK và coi đó là một kênh đầu tư. Đến khi nào mọi người nhận thức được TTCK không chỉ là kênh kiếm tiền mà còn là nơi giữ tiền để tăng giá trị tài sản thì lúc đó TTCK mới phát triển.
Một điều quan trọng nữa, bất cứ ngành nghề nào nguồn nhân lực cũng là quan trọng nhất. Chúng ta đã đào tạo được nguồn lực vốn dĩ trước đây chỉ biết kiến thức trên sách vở, mang vận hành trong thị trường. Phải công nhận rằng, nguồn nhân lực của TTCK ngày hôm nay đã là một trời một vực so với thời điểm trước. Bây giờ khi đi tuyển nhân sự cho ngành chứng khoán không còn biên giới giữa nước ngoài và trong nước nữa.
Nếu nhìn lại quãng thời gian qua, ông ấn tượng với giai đoạn nào nhất?
Điều SSI làm được nhiều nhất và cũng được Chính phủ ghi nhận, bản thân tôi cũng cho rằng mình đã đóng góp việc thúc đẩy TTCK phát triển là giai đoạn cổ phần hóa các nhà máy điện (giai đoạn 2006-2007). Lúc đó thị trường có rất nhiều nhà máy điện có giá trị tài sản rất lớn, rất tiếc quá trình CPH bị chặn lại vì sợ mất tài sản quốc gia. Nếu lúc đó đẩy mạnh câu chuyện hơn để thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài thì hiện tại, chúng ta không lo lắng nhiều về vốn làm nhiều nhà máy điện.
Những thương vụ cơ bản về thu xếp vốn hàng năm đều có bóng dáng của SSI. Chúng tôi là một thành phần của thị trường nên không thể đi ra ngoài phạm vi thị trường, nhưng bản thân tôi cho rằng những gì SSI đã kết nối vốn cho thị trường tốt so với tốc độ phát triển chung của TTCK VN.
Ở thời điểm hiện tại câu chuyện đẩy mạnh cổ phần hóa và thoái vốn nhà nước được rất nhiều nhà đầu tư quan tâm. Việc SCIC thoái vốn tại 10 doanh nghiệp lớn như Vinamilk, Dược Hậu Giang, FPT hay Bộ Công Thương thoái vốn tại Sabeco, Habeco, ông đánh giá sẽ tác động ra sao đến thị trường?
Câu chuyện này chúng ta đã nhắc đến nhiều. Ở các mô hình kinh tế, nhà nước quan tâm hơn đến đa dạng hóa sở hữu các ngành mà nhà nước chi phối. Việc bán cổ phần tại các công ty không cần chi phối ngoài việc thu về những khoản thặng dư khổng lồ còn giúp nhà nước tạo ra các công ty phát triển bền vững hơn. Nếu mọi thứ được minh bạch hóa và có chiến lược rõ ràng, dòng vốn mới sẽ giúp các công ty tăng trưởng nhiều hơn. Chỉ cần các công ty lớn tăng trưởng 20% mỗi năm thì chúng ta đã có thể kỳ vọng tạo ra các công ty có thương hiệu quốc gia nhưng tầm cỡ quốc tế. Điều này cũng sẽ tạo thêm nhiều công ăn việc làm, đóng nhiều thuế cho nhà nước và giúp tăng trưởng GDP. Ở thời điểm hiện tại mặc dù nhà nước sở hữu nhiều tài sản nhưng trong số đó có nhiều công ty kinh doanh không hiệu quả, cổ tức được chia trên vốn chủ sở hữu thấp.
Với TTCK, có nhiều hàng hóa chất lượng và phát triển bền vững niêm yết sẽ giúp hấp dẫn nguồn vốn hơn, thu hút nhiều nhà đầu tư trong nước và nước ngoài, tăng cường độ minh bạch và hạn chế lợi ích nhóm.
Những thông điệp của Chính phủ thời gian gần đây đang ủng hộ thị trường chứng khoán. Đã có những chỉ đạo về việc bán cổ phần nhà nước theo nguyên lý thị trường và đẩy mạnh niêm yết. Chúng ta biết rằng để TTCK phát triển thì mọi thứ cần minh bạch và phải triển đúng theo nguyên lí thị trường, thông điệp của Thủ tướng vừa nói ra đi theo con đường đó và chúng ta phải tin vào những gì Chính phủ làm.
Trả lời báo Đầu tư chứng khoán cách đây 6 năm, ông đã từng nói điều cốt yếu nhất của thị trường là tính minh bạch và chỉ sự thật mới mang lại giá trị. Nhưng rất nhiều năm trôi qua thị trường vẫn còn rất nhiều trường hợp công ty lừa đảo nhà đầu tư, tăng vốn ồ ạt thậm chí khai khống trong báo cáo tài chính khiến nhà đầu tư phải gửi đơn đi kiện. Ông đánh giá việc này như thế nào?
Ngay cả tại các TTCK phát triển như Mỹ, Anh, Singapore với các tội danh bị phạt lên tới hàng tỷ USD mà đâu đó vẫn tồn tại yếu tố lừa đảo. Đó là sự sinh tồn của quá trình phát triển, cái này không thể triệt tiêu hoàn toàn được hết. Điều quan trọng là chúng ta phải kiểm soát để làm sao tỷ trọng của cái tốt cao hơn cái xấu thôi.
Ở các nước khác, TTCK có trước sau đó UBCK có sau, UBCK ra đời để định hướng và kiểm soát để tránh méo mó trên thị trường. Ở nước ta UBCK có trước, với chức năng vừa xây dựng vừa kiểm soát. Mười mấy năm qua chúng ta đã đặt việc phát triển thị trường lên trên. Điều này là hợp lý bởi khi đó thị trường của chúng ta còn quá nhỏ, nhưng như thế đã kéo theo nhiều hệ lụy khi có nhiều CTCK tự đào thải, nhiều trường hợp thiếu minh bạch, vàng thau lẫn lộn, có hiện tượng đội làm giá này đội làm giá kia. ..
Khi thị trường đã phát triển đến một độ nhất định thì chúng ta phải nghĩ đến việc phải làm sao cho thị trường thêm minh bạch hơn, phần kiểm soát phần định hướng ưu tiên hơn so với phần phát triển. Mặc dù vẫn phải lưu ý việc phát triển vì thị trường vẫn quá nhỏ nhưng nếu không kiểm soát tốt thị trường sẽ chết yếu, phải củng cố lại để cho phần chính đạo lớn lên, tà đạo nhỏ đi Khi đó mặt bằng chất lượng hàng hóa trên thị trường mới tốt hơn được.
Vậy làm thế nào để nhà đầu tư có thể tránh việc không bị lừa trên TTCK thưa ông?
Mọi người hãy nhìn lại lịch sử. Mười mấy năm thôi nhưng lịch sử đã chứng minh những công ty phát triển bền vững sẽ mãi trường tồn, những công ty chụp giật đâu đấy sẽ tự đào thải. Tất nhiên mỗi người có nhận thức khác nhau và lòng tin khác nhau, không có công thức chung cho tất cả mọi người. Mọi thứ đều có thống kê lịch sử, công ty có thống kê lịch sử, doanh nhân có thống kê lịch sử, cộng với phân tích báo cáo research ngành, cộng với kết luận của các công ty kiểm toán, định mức tín nhiệm ngân hàng sẽ giúp cho NĐT có cái nhìn chuẩn mực hơn về các công ty mà NĐT quan tâm, nhưng tất nhiên không gì có thể bảo đảm tuyệt đối.
Lòng tin sẽ quyết định sự thành bại của TTCK. Những người làm ăn chộp giật sẽ không thể phát triển trường tồn. Mọi người đừng nghĩ việc mình làm khác điều mình nói mà người khác sẽ tin, thị trường rất sòng phẳng và công bằng, ai làm gì ai như thế nào sớm muộn gì thị trường cũng biết.
Tương lai tươi sáng
Ông có nhiều cơ hội tiếp xúc với NĐT nước ngoài, quan điểm của họ vào thị trường TTCK Việt Nam như thế nào thưa ông?
Không có quan điểm về thị trường cho mãi mãi. Có lúc chúng ta mở cửa cho dòng vốn vào ồ ạt, đẩy giá tài sản lên cao, sau đó lại đến thời kỳ nguội lạnh khi các thị trường khu vực hấp dẫn hơn. Nhưng ở thời điểm hiện tại NĐT nước ngoài đánh giá TTCK Việt Nam có nhiều ưu thế nhất, sau vài năm Myanmar không phải giấc mơ vàng, Indonesia, Thái Lan, Phillipiné có những vấn đề nội tại của họ …Việt Nam là thị trường ít xấu nhất trong khu vực nên trong cạnh tranh có nhiều lợi thế hơn.
Ông cho rằng thời điểm này NĐT đã sẵn sàng cho các công cụ mới chưa? Khi chúng ta áp dụng các sản phẩm rất thô sơ như T+2 đã có một số CTCK bị đào thải vì họ chuẩn bị không kịp hạ tầng cho quy trình thanh toán?
UBCK điều tiết, còn hãy để thị trường tự phát triển, với các sản phẩm mới chỉ cần 10% các công ty có thể thực hiện được thì cho thí điểm làm trước, sau đó tháo van dần dần, bắt các công ty khác tự nâng cấp lên. Vì để 100% các công ty thực hiện được là rất khó, hoặc là phải hạ chuẩn mà điều này hoàn toàn không nên làm.
Tốt nhất nên đưa dần các sản phẩm ra, sau đó công bố thông tin minh bạch, để nhà đầu tư tự chịu trách nhiệm với các quyết định của mình, như xổ số mặc dù 5 ăn 5 thua nhưng vẫn có nhiều người mua tại sao có những sản phẩm như phái sinh lại ko được?
Ông kỳ vọng TTCK thời gian tới như thế nào?
Không một quốc gia nào phát triển nếu không có TTCK, nhu cầu vốn tại Việt Nam vô cùng lớn. Thị trường có quy mô tăng trưởng cao và đó là cơ hội cho TTCK Việt Nam. Nếu cách đây 15 năm tương lại chứng khoán còn mù mờ thì 15 năm tới tương lai còn tốt hơn nhiều.
Ông luôn ủng hộ quan điểm nới room 100%, liệu có bao giờ ông nghĩ đến trường hợp mình sẽ rút ra khỏi ngành chứng khoán chỉ tập trung phát triển nông nghiệp không?
Ai biết được tương lai ra sao nhưng trong đầu tôi chưa bao giờ nghĩ đến chuyện đấy và không có chủ trương đấy.
Xin cảm ơn ông.
Phương Mai - NDH.