10 thg 8, 2018

[Quy tắc đầu tư vàng] Học hỏi chiến lược “cưỡi trên lưng quái thú” từ nữ trader thành công nhất mọi thời đại

Thế giới tài chính được tạo ra bởi hành vi con người. Không ai có thể biết điều gì sẽ xảy ra trong tương lai. Do đó nhà giao dịch thành công không phải là người dự đoán điều gì sắp diễn ra mà phải biết phản ứng như thế nào với mọi tình huống…


Linda Raschke sinh năm 1959 tại thành phố Pasadena trực thuộc tiểu bang California tại Hoa Kỳ. Bà được biết tới là nhà đầu tư nữ giới thành công nhất mọi thời đại. Đồng thời cũng là một trong những nữ hoàng trên thị trường tài chính, vốn được xem là nơi thử thách mạo hiểm của phái mạnh thời bấy giờ. Dường như bà đã khẳng định cho nửa thế giới còn lại một chân lý "Tất cả những gì đàn ông làm được phái nữ cũng có thể biến chúng thành hiện thực rực rỡ".
Bà bắt đầu làm chuyên gia giao dịch chứng khoán từ đầu những năm 1980 và là người tạo lập thị trường cho các quyền chọn cổ phiếu. Trong vòng sáu năm, bà làm việc tại Sàn chứng khoán Pacific Coast và Sàn chứng khoán Philadelphia trước khi trở thành 1 broker nổi tiếng nhất thập niên ngày ấy.
Cho tới tận bây giờ, Linda Raschke vẫn được giới đầu tư phố Wall xem là một nữ trader đỉnh cao và nhà quản lý tiền xuất sắc khi không thua lỗ trong suốt 3 thập kỷ qua. Bà luôn chia sẻ vui trong mỗi cuộc phỏng vấn truyền hình "Đầu tư chứng khoán chính là cuộc chơi mạo hiểm cưỡi trên lưng quái thú mà chỉ có người bản lĩnh và chịu khó học hỏi mới chiến thắng".
Những năm sau đó sự nghiệp của bà phát triển khá rực rỡ. Linda Raschke thời điểm ấy vốn được biết tới là chủ tịch đồng thời của hai công ty tài chính, được đặt tên theo tên viết tắt của bà: công ty LBRGroup - chuyên cố vấn kinh doanh hàng hóa, và LBR Asset Management - một công ty điều hành quỹ chung.
Bà còn là tác giả của một cuốn sách về chiến lược giao dịch xác suất cao và được quảng bá rộng rãi trên các phương tiện truyền thông "Street Smarts - High Probability Short Term TradingStrategies". Đồng thời cũng là một nữ giáo viên từng giảng dạy về giao dịch chứng khoán cho một số tổ chức có uy tín, trong đó có Hiệp hội quản lý Future và Bloomberg.

Linda Raschke đã tự tạo ra nhiều hệ thống giao dịch chuyên nghiệp mà cho tới thời nay vẫn còn nguyên vẹn giá trị sử dụng.
1. Một cổ phiếu khi đã thực sự bước vào sóng uptrend, nó sẽ tăng giá trong khoảng thời gian từ 2 tháng trở lên thậm chí tới 6-8 tháng, chính vì vậy NĐT không việc gì phải vội vàng nếu nó chỉ vừa mới tăng.
"Nhỡ nó tăng mất thì sao" là nỗi sợ của rất nhiều nhà đầu tư chứng khoán. Lý do là họ chưa phân biệt được đâu là cổ phiếu tăng thực sự - đâu là cổ phiếu "ăn theo". Một cổ phiếu tăng thực sự chí ít sẽ tăng từ 2 - 6 tháng thậm chí dài hơn. Còn một nhịp tăng của cổ phiếu ăn theo thì chỉ tầm 2 - 3 tuần là kết thúc. Việc mua đúng cổ phiếu hàng đầu vào sóng tăng thì dù có mua muộn cũng lãi 20 - 30% là chuyện bình thường trên thị trường cổ phiếu.
2. Đừng quá tự tin
Đầu tư chứng khoán đã dạy tôi rằng đừng nghĩ sự thông minh của mình có thể đánh bại thị trường. Tất cả số tiền mà bà kiếm được từ trading là điều chứng minh cho việc hầu hết mọi người đều mắc sai lầm. Thậm chí đám đông còn mắc sai lầm rất nhiều lần nữa.
Qua những giao dịch, bà đã học được một điều trên thị trường, đó là đám đông điên loạn, thường sẽ phi lý trí và khi họ bị cảm xúc lấn át, đó là lúc họ luôn luôn phạm phải sai lầm.​ Linda Raschke cũng nói rằng sự thông minh mà bạn có được nếu không rèn luyện học hỏi mà đem nó đi chiến đấu với thị trường ngay tức khắc vốn là một điều vô cùng sai lầm. Bạn quá tự tin khi vào lệnh, bạn đặt bạn vào rủi ro vì cái tôi của mình và chắc chắn bạn sẽ tiếp tục mất tiền. Đừng quá tự tin, hãy chăm chỉ học hỏi, rèn luyện ắt đầu tư sẽ có ngày thành công.
3. Kết hợp chiến lược giao dịch với các điểm Pivot – chiến lược điểm xoay
Chiến lược điểm xoay (Pivot points) được sử dụng rất hiệu quả trong các giao dịch ngắn hạn, khi mà những nhà giao dịch muốn tìm cơ hội kiếm lời trên các bước biến động nhỏ của thị trường.
Điểm xoay được sử dụng cho cả 2 cách đầu tư: bật trở lại sau khi chạm các ngưỡng cản (Rang-bound) và phá vỡ mức cản (Breakout). Những nhà giao dịch theo cách Rang-bound sử dụng Pivot point để tìm ra các điểm mà tại đó thị trường sẽ đảo chiều. Còn những nhà giao dịch theo cách Breakout sử dụng Pivot Point để nhận diện những mức mà tại đó thị trường sẽ phá vỡ được mức cản và dự đoán có sự "bùng nổ" xảy ra trên thị trường.
Đỉnh và đáy ngày hôm trước là các điểm pivot quan trọng cho biết người mua và người bán đang ở đâu trong ngày hôm trước. Vì thế, hãy quan sát xem liệu thị trường có kiểm tra lại hoặc đảo chiều từ các điểm pivot này hay không.
4. Mua tại lần điều chỉnh đầu tiên (first pullback) sau khi giá thiết lập đỉnh cao mới. Bán ngay sau lần hồi phục đầu tiên (first rally) sau khi giá tạo đáy mới.
5. Nếu thị trường đang mạnh lên hay yếu đi, nó phải được thể hiện đà ở ngày tiếp theo (ví dụ phải có ngày bùng nổ theo đà (follow through) sau phiên tăng giá mạnh).
6. Các khoảng trống (Gap) xuất hiện càng rộng (lớn), khả năng cao xu hướng sẽ tiếp diễn.
7. Khi thị trường giao dịch ở quay đỉnh hoặc đáy của ngày hôm trước là chỉ báo tốt cho thấy thị trường đang mạnh lên hay yếu đi.
8. Giờ giao dịch cuối cùng thường nói cho chúng ta biết sự thật về xu hướng hiện tại. Dòng tiền "thông minh" thường ra tay vào giờ giao dịch cuối cùng. Khi thị trường vẫn còn đóng cửa tăng giá mạnh, xu hướng tăng sẽ còn tiếp diễn trong phiên tới. Khi xu hướng tăng giá kết thúc, nó thường đảo chiều vào buổi sáng và sau đó, giá đóng cửa cuối phiên sẽ giảm.
9. Khối lượng giao dịch lớn vào lúc đóng cửa hàm ý xu hướng sẽ tiếp tục vào buổi sáng tiếp theo hướng cửa nửa giờ giao dịch cuối cùng. Trong thị trường có xu hướng mạnh, hãy quan sát khả năng giá sẽ quay trở lại xu hướng chính ở giờ giao dịch cuối cùng.
10. Thế giới tài chính được tạo ra bởi hành vi con người. Không ai có thể biết điều gì sẽ xảy ra trong tương lai. Do đó nhà giao dịch thành công không phải là người dự đoán điều gì sắp diễn ra mà phải biết phản ứng như thế nào với mọi tình huống.
Lê Hằng
Theo Trí thức trẻ

8 thg 8, 2018

Danh mục 8 cổ phiếu cho tháng 8

Trong quý 2/2018, TTCK Việt Nam diễn biến kém tích cực do chịu tác động từ (1) Rủi ro từ chiến tranh thương mại Mỹ Trung; (2) Đồng USD tăng giá, đồng CNY mất giá; (3) Khối ngoại liên tục bán ròng trong tháng 4 và tháng 5 (khối ngoại vừa cơ cấu danh mục và rút ròng khỏi TTCK theo xu hướng chung toàn cầu ) (4) TTCK VN chưa được vào danh sách xem xét nâng hạng trong kỳ đánh giá hàng năm của MSCI. Sang tháng 7, TTCK Việt Nam tiếp tục gặp khó khi cuộc chiến thương mại của Mỹ- Trung Quốc chính thức khởi động và các mặt hàng đầu tiên của cả 2 nước bắt đầu bị áp thuế cao.
Dẫu vậy tháng 7 là mùa công bố KQKD bán niên, định giá tương đối hấp dẫn nếu xét trên tăng trưởng lợi nhuận đã hỗ trợ  cho chỉ số trong giai đoạn này. P/E của VN-Index và VN30-Index thời điểm đầu tháng 7 ghi nhận mức 17.0 lần và 15.0 lần, thấp hơn đáng kể so với mức 19.0 lần vào cuối năm 2017 của cả 2 chỉ số. P/E của nhóm SSI Coverage (75% vốn hóa thị trường) cùng thời điểm đó ước tính ở mức 15.6 lần cho năm 2018 và 13.2 lần cho năm 2019.
Định giá vừa phải giúp giá cổ phiếu dễ phản ứng với các yếu tố tích cực được công bố trong mùa báo cáo kết quả kinh doanh. Thực tế, trong 2 tuần giao dịch cuối tháng hầu hết các cổ phiếu cơ bản, có tăng trưởng lợi nhuận tốt trong 6T2018 đều tăng giá như SSI, FPT, MSN, GAS, PNJ, PLX, PPC, NT2, POW, , MBB, ACV, HPG, MWG, VCB, ACB, …
Quay trở lại vấn đề căng thẳng thương mại Mỹ -Trung. Gía trị 34 tỷ USD trong đợt 1 là rất nhỏ so với kim ngạch XK từ Trung Quốc sang Mỹ là 505 tỷ USD trong năm 2017. Kim ngạch XK các mặt hàng tương tự từ Việt Nam xuất sang Mỹ cũng rất khiêm tốn. Hiện tại, tác động đến thương mại hàng hóa là chưa đáng kể. Tuy nhiên, vấn đề nhà đầu tư quan tâm và lo ngại hàng đầu là tác động từ chiến tranh thương mại lên thị trường tiền tệ, cụ thể là lãi suất và tỷ giá nếu cuộc chiến này leo thang.
Diễn biến thời gian gần đây đã chứng minh, các quyết định của Tổng thống Donald Trump không dễ đoán, ông có thể để căng thẳng Mỹ - Trung đã được giải quyết hoặc tiếp tục mở rộng chiến tranh thương mại với Trung Quốc bằng các gói đánh thuế tiếp theo với giá trị lớn hơn; và thậm chứ cũng không loại trừ khả năng ông sẽ mở rộng chương trình đánh thuế với các quốc gia khác, như Việt Nam nhắm tránh trường hợp Trung Quốc né thuế…
Với nhiều ẩn số khó đoán định, trong khi tăng trưởng lợi nhuận chỉ là một trong rất nhiều yếu tố thuyết phục nhà đầu tư nên đa phần các nhà đầu tư lớn với tầm nhìn dài hạn sẽ rất thận trọng trong các quyết định đầu tư mới cho giai đoạn hiện nay và thậm chí sẽ phải hạ tỷ trọng cổ phiếu để hạn chế rủi ro . Do đó, các chỉ số khó có thể tăng mạnh trong tháng 8 và tháng 9. Sang quý 4/2018 nếu không có tác động tích cực nào đáng kể ở tầm chính sách sách vĩ mô, kịch bản chính là thị trường vẫn tiếp tục  đi ngang, dao động quanh vùng 900-1000 điểm với sự hỗ trợ của tăng trưởng lợi nhuận.
Nhóm cổ phiếu chúng tôi lựa cho giai đoạn sắp tới gồm 8 cổ phiếu có (i) vị thế và quy mô đầu ngành (ii) lợi thế cạnh tranh và tăng trưởng hoạt động kinh cốt lõi (iii) KQKD 6T2018 chứng minh được tăng trưởng và hoàn thành ½ KH năm. GAS, POW, FPT, HPG, TCM, KSB, MSN, PLX sẽ là các cổ phiếu nhiều khả năng sinh lợi trong tương lai và tránh được các cú sốc từ bên ngoài.
(*) Lợi nhuận cùng kỳ 2017 có khoản lợi nhuận đột biến
GAS
Lợi thế cạnh tranh: Nằm tại vị trí trung nguồn (mid-stream) trong chuỗi giá trị ngành dầu khí, GAS là doanh nghiệp duy nhất tại Việt Nam thực hiện công việc thu hồi khí từ các mỏ khí và phân phối lại các sản phẩm khí (khí khô, khí LPG, khí CNG) cho khách hàng (các nhà máy điện, khu công nghiệp,….)
Điểm nhấn đầu tư: (1) Kết quả kinh doanh 6T2018. Doanh thu đạt 38.361 tỷ đồng (+18% YoY) và LNST đạt 5.872 tỷ đồng (+43% YoY), hoàn thành 93% kế hoạch LNST năm 2018 chủ yếu dựa vào mức tăng mạnh của giá dầu. Theo ước tính, giá dầu tăng 1 USD, GAS sẽ ghi nhận thêm 150 tỷ đồng LNTT. (2) Triển vọng dài hạn đến từ các mỏ mới. Sản lượng khí của GAS sẽ tăng trưởng mạnh kể từ giai đoạn 2021-2022, ước tính tăng trưởng với CAGR là 7,7% cho giai đoạn 2017-2022 dựa vào nguồn cung mới từ các dự án Phong Lan Dại, Sư Tử Trắng, Sao Vàng Đại Nguyệt,.. và nhập khẩu thêm LPG. (3) PVN thoái vốn. PVN dự kiến sẽ hạ tỷ lệ sở hữu tại GAS từ mức 95,76% xuống 65% trong năm 2019.
Ước tính và định giá. Năm 2018, công ty mẹ PV GAS dự kiến đạt mức doanh thu 63.400 tỷ đồng (+ 9,7% YoY) và LNST là 10.670 tỷ đồng (+10,3% YoY). Dựa theo P/E và EV/EBITDA mục tiêu lần lượt là 19x và 10,5x, giá mục tiêu 1 năm của GAS là 103.000 VND/cp.
Rủi ro: (1) Nguồn cung khí giảm sút, giá đầu vào tăng. Giá khí tại lô 11.2 tại bể Nam Côn Sơn dự kiến tăng từ mức 2,68 USD/mmbtu lên 6,57 USD/mmBTU, áp dụng từ 01/01/2019. (2) Giá dầu thô giảm
POW
Lợi thế cạnh tranh: (1) Sản lượng điện năm 2017 đạt 20,6 tỷ kWh, thị phần theo công suất phát điện đạt mức 12%, chỉ đứng sau nhóm EVN. (2) Hơn 71 % công suất phát điện là các nhà máy nhiệt điện  nằm tại miền Nam, là khu vực luôn thiếu điện, tăng trưởng nhu cầu điện tại khu vực này dự kiến tăng 11%/năm.
Điểm nhấn đầu tư: (1) Kết quả kinh doanh 1H2018 tích cực. Sản lượng điện tăng thêm 6% YoY chủ yếu đến từ 2 nhà máy NT2 và VA1. Doanh thu và LNTT tăng trưởng lần lượt 12,2% và 44% so với cùng kỳ 2017. (2) Công ty điện niêm yết duy nhất có triển vọng cải thiện công suất từ năm 2021 nhờ vào 2 nhà máy NT3 và NT4 với CSTK là 1.500 MW. (3) Thị trường điện cạnh tranh. Theo Trung tâm khí tượng thủy văn, thủy văn các sông khu vực Bắc bộ, Trung bộ dự kiến giảm 10-40% trong các tháng cuối năm 2018, tạo  ra mức huy động cao và khả năng tăng giá điện trên thị trường cạnh tranh cho các nhà máy nhiệt điện. Thị trường cạnh tranh, đặc biệt là thị trường bán lẻ sẽ mang lại nguồn thu lớn cho các công ty như POW khi miếng bánh thị phần phân phối sẽ chuyển từ EVN về các công ty phát điện. (4) Chuyển sàn. Cổ phiếu POW dự kiến niêm yết trên HOSE vào tháng 11/2018, định hướng vào rổ chỉ số VN30.
Ước tính, định giá. (1) KQKD 2018: DT đạt 34.800 tỷ đồng (+13% YoY) và LNTT đạt 2.923 tỷ đồng (+7% YoY). Tăng trưởng LNTT năm 2019 và 2020 lần lượt là 16,7% và 21,2% khi nhà máy Cà Mau 1 và 2 hết khấu hao. (2) Định giá: Dựa trên EV/EBITDA mục tiêu năm 2018 là 6,6x, giá hợp lý của POW là 17.800 VND/cp (upside +34%).
Rủi ro: (1) Phần lớn khoản vay ngoại tệ của POW là đồng USD, điều này sẽ gây áp lực lên chi phí tài chính của công ty khi USD/VND tăng giá. (2) Áp lực từ nguồn cung khí đầu vào sụt giảm sẽ khiến cho chi phí đầu vào tăng.
FPT
FPT là công ty số 1 về lĩnh vực công nghệ thông tin. Trong đó, hợp tác với các công ty công nghệ hàng đầu tư GE, Siemens, AWS, Microsoft, IBM, Cisco…
Điểm nhấn đầu tư. (1) Mảng công nghệ tiếp tục duy trì tăng trưởng tích cực. Doanh thu gia công phần mềm tiếp tục tăng trưởng cao 29,3% YoY nhờ thị trường Nhật Bản và Châu Á - Thái Bình Dương tăng 29% và 41%.. Nhật Bản tiếp tục là thị trường quan trọng nhất về gia công phần mềm, chiếm 59%; (2) Lợi nhuận mảng viễn thông cải thiện, nhờ điều chỉnh tỷ lệ cho Quỹ dịch vụ viễn thông công ích Việt Nam đã giảm từ 1,5% còn 0,7% doanh thu viễn thông, theo quyết định số 868/ QĐ-TTg có hiệu lực ngày 16/7/2018; (3) Tình hình tài chính lành mạnh sau khi thoái vốn. Hàng tồn kho giảm 3.000 tỷ đồng và tổng nợ giảm hơn 30% trong quý 2/2018.
Định giá. FPT đang giao dịch ở mức PE 2018 và 2019 là 12x và 11x dựa vào ước tính hiện tại là lợi nhuận giảm16,2% YoY trong năm 2018 và tăng 10,3% YoY năm 2019. Giá mục tiêu 1 năm là 58.500 đồng/ cổ phiếu.
HPG
HPG giữ vững vị trí dẫn đầu về thị phần 22,2% đối với thép xây dựng và 26,6% đối với ống thép trong 6T2018. Thị phần giảm nhẹ từ mức 24% trong năm 2017 và quý 1/2018, có thể do lò cao thứ hai ngừng hoạt động. Lò này có công suất 0,5 triệu tấn/năm và tạm dừng trong hai tháng để bảo trì và nâng cấp từ cuối tháng 3 đến tháng 5.
Điểm nhấn đầu tư: (1) Sản lượng tiêu thụ duy trì tăng trưởng tích cực nhờ nhu cầu thị trường. Lũy kế, sản lượng thép xây dựng và ống thép trong 6T2018 năm đạt 1.096 nghìn tấn và 342 nghìn tấn, tăng lần lượt 8,1% và 14,8%YoY, nhờ tăng trưởng của thị trường chung; (2) Vị thế dẫn đầu ngành sản xuất thép; (3) Giá thép tăng cùng với giá thế giới. Giá thép xây dựng tăng trung bình 24% YoY lên 13,5 triệu đồng/tấn cùng chiều với biến động giá thép thế giới; (4) Không có tác động lớn từ chiến tranh thương mại. chúng tôi cho rằng HPG không bị ảnh hưởng nhiều từ chiến tranh thép vì chỉ xuất khẩu khoảng 8,8% tổng sản lượng thép xây dựng.
Ước tính lợi nhuận: Dự báo doanh thu và lợi nhuận ròng năm 2018 ở mức 60,7 nghìn tỷ đồng (+ 31,5% YoY) và 9,2 nghìn tỷ đồng (+ 15% YoY). Giả định sản lượng thép xây dựng, thép ống và thép mạ kẽm của chúng tôi là 2,47 triệu tấn (+ 14% YoY), 720.000 tấn (+ 20% YoY) và 230.000 tấn.
Định giá: Ở mức giá hiện tại, HPG đang giao dịch ở mức PE 2018 và 2019 tương ứng là 8,4x và 6,5x. Giá mục tiêu 1 năm 51.000 đồng/cp, (upside 41%).
TCM
Lợi thế cạnh tranh. TCM là một trong số ít các doanh nghiệp dệt may có chuỗi giá trị hoàn thiện bao gồm sợi – dệt nhuộm – may mặc. Đây là điều kiện quan trọng giúp TCM hưởng các ưu đãi về thuế quan khi Việt Nam ký kết các hiệp định thương mại tự do quan trọng như CPTPP và EVFTA, vì đáp ứng được điều kiện “từ sợi trở đi” . Bên cạnh đó, đầu ra của TCM được bao tiêu bởi cổ đông lớn Eland với đóng góp cho doanh thu hàng năm từ 25-30%.
Điểm nhấn đầu tư. (1) Kết quả kinh doanh quý II/2018 tích cực. DTT và LNST 1H2018 lần lượt đạt 1.650 tỷ đồng (+6,5% YoY) và 116,8 tỷ đồng (-1,4% YoY). Nếu loại trừ khoản lợi nhuận đột biến từ bán bất động sản vào 1H2017, tăng trưởng LNST của TCM đạt mức +26.5% YoY. Biên lợi nhuận gộp cải thiện từ mức 16,4% trong 1H2017 lên 17,7% trong 1H2018 chủ yếu nhờ các đơn đặt hàng mới từ thị trường Nhật Bản đối với sản phẩm vải. (2) Tái cấu trúc. Thu hẹp mảng sợi có biên lợi nhuận thấp (dưới 7%), chuyển sang tập trung tiêu thụ nội bộ và định hướng mở rộng ở mảng vải và hàng may mặc có biên lãi gộp cao hơn, 21-25%. (3) Ghi nhận thu nhập tài chính thông qua việc bán nhà máy, dự kiến ghi nhận 22 tỷ đồng PBT từ việc bán nhà máy tại huyện Đức Hòa.
Ước tính và định giá. DTT 2018 ước tính đạt 3.270 tỷ đồng (+1.5%YoY) và LNST tăng +2% lên 196,5 tỷ đồng. Với mức P/E mục tiêu là 7,5x, giá hợp lý của TCM là 22.400 VND/cp.
Rủi ro. (1) Rủi ro tỷ giá khi đồng USD mạnh lên, (2) Giá bông đầu vào tăng, (3) Năng suất tại nhà máy Vĩnh Long tiếp tục không được cải thiện.
KSB
Sở hữu mỏ đá hiệu quả cao nhất tại khu vực Đông Nam Bộ. Mỏ Tân Đông Hiệp của KSB là mỏ hoạt động hiệu quả tốt nhất khu vực, với vị trí gần khu vực TP Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Bình Dương và chất lượng đá có độ cứng cao. Giá bán đá 1x2 tại mỏ Tân Đông Hiệp là 283.000 đồng/m3 (giá VAT) - giá đá cao nhất trong khu vực Đồng Nai và Bình Dương.
Điểm nhấn đầu tư. (1) Mỏ Tân Đông Hiệp được gia hạn khai thác đến cuối năm 2020, với tổng trữ lượng 4 triệu m3, dự kiến doanh thu khoảng 1.640 tỷ đồng trong vòng 3 năm. Biên lợi nhuận gộp đạt 35%; (2) M&A 3 mỏ mới là Thiện Tân 7, Bãi Giang và Go Trường với tổng công suất 2,7 triệu m3. Dự báo khi cả 3 mỏ đi vào khai thác sản lượng KSB sẽ tăng 33,7%; (3) Triển vọng tích cực từ khu công nghiệp với diện tích cho thuê trong năm 2018 đạt 40 ha, giá thuê 85 USD/m2/chu kỳ thuê, dự kiến đem lại nguồn thu 775 tỷ đồng; (4) Công ty hiện đang M&A với mỏ có trữ lượng lớn nhất khu vực Đông Nam Bộ.
Ước tính lợi nhuận. Dự báo doanh thu trong năm 2018 đạt 1.170 tỷ đồng (+6.5%yoy) và lợi nhuận sau thuế đạt 330 tỷ đồng (+19% yoy). EPS pha loãng đạt 6.410 đồng/CP tương đương P/E forward đạt 4.75x.
Định giá. Sử dụng phương pháp DCF, giá kỳ vọng đối với cổ phiếu KSB ở mức 44.000 đồng/CP, tại mức PE tương đương 6.8x.
MSN
Tập đoàn Masan là một trong những công ty lớn nhất trong khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam, tập trung hoạt động trong ngành hàng tiêu dùng và tài nguyên.
MSN tiếp tục thực hiện kế hoạch tăng trưởng với lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh chính tăng 3 lần trong 6T2018 và MNS đang trên đà tăng trưởng trở lại. Công ty đã công bố KQKD 6T2018 với DTT đạt 17.458 tỷ đồng (-3,1% YoY) và LNST của cổ đông công ty mẹ đạt 3.030 tỷ đồng  (+566% YoY). Tính riêng, lợi nhuận thuần từ hoạt động sản xuất kinh doanh chính đã tăng 3.4 lần so với cùng kỳ 2017 lên 1.559 tỷ đồng và biên lợi nhuận thuần đạt 8.9% so với mức 2.5% trong cùng kỳ. Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh chính cải thiện cho thấy hiệu quả quản lý làm giảm chi phí bán hàng và chi phí tài chính thuần.
MCH là động lực tăng trưởng chính của MSN trong nửa đầu năm nhờ vào tăng trưởng doanh thu mạnh của các sản phẩm cốt lõi và hệ thống phân phối vững mạnh. Qua đó  tăng trưởng lợi nhuận của MCH cao hơn tăng trưởng doanh thu, cụ thể DTT tăng 37%YoY trong khi EBITDA tăng 174%.
MNS bị khó khăn bởi giá heo trong nửa đầu năm, tuy nhiên thị trường đã cho dấu hiệu hồi phục từ Q2/2018.
MSR đạt doanh thu và lợi nhuận kỷ lục trong nửa đầu năm nhờ hiệu quả hoạt động cải thiện và giá vonfram tăng.
Cho năm 2018, dự báo DTT và lợi nhuận thuần cho cổ đông công ty mẹ tăng tương ứng 12.8% lền 42.420 tỷ đồng và 11.4% lên 3.460 tỷ đồng. Tuy nhiên, do có lợi nhuận không thường xuyên 1.460 tỷ đồng từ thoái vốn giả định tại TCB, chúng tôi sẽ điều chỉnh lại ước tính cho MSN. Dựa trên ước tính hiện tại, với mức giá 81.000 đồng/cp MSN đang giao dịch tại P/E 2018 cốt lõi 25.9 lần và P/E 2018 22.3 lần khá hợp lý so với VNM, SAB tuy nhiên PEG 2018 của MSN thấp hơn nhiều so với các doanh nghiệp cùng ngành.
PLX
Lợi thế cạnh tranh. Petrolimex là doanh nghiệp có thị phần số 1 trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu tại Việt Nam. Thị phần của PLX ước đạt 48%, theo sau là PV Oil với 22%. Hiện tại PLX đang vận hành 2.400 cửa hàng xăng dầu trực thuộc (COCO) và 3.000 đại lý (DODO) trên toàn quốc.s
Điểm nhấn đầu tư. (1) Kết quả kinh doanh 6T2018 khả quan. DTT hợp nhất đạt 96.757 tỷ đồng (+30,5% YoY), chủ yếu do giá dầu tăng mạnh so với cùng kỳ. Giá dầu WTI 1H2018 đạt mức 65,46 USD/thùng, tăng 31% so với cùng kỳ năm 2017. LNTT hợp nhất là 2.809 tỷ đồng (+13% YoY). (2) Biên lợi nhuận gộp tăng từ mức 8% Q2/2017 lên mức 8.1% Q2/2018 nhờ vào : 1/ đóng góp ngày càng cao của xăng E5-sản phẩm có biên lãi gộp cao nhất trong cơ cấu sản phẩm; 2/ tiêu thụ qua hệ thống COCO tăng. (3) Thương vụ sáp nhập của PGBank vào HDBank sẽ mang lại cho PLX khoản thu nhập tài chính hơn 1.330 tỷ đồng. (4) Thoái vốn Nhà nước. Bộ Công thương dự kiến hạ thấp tỷ lệ sở hữu tại PLX xuống mức 65% và sau đó là 51%.
Ước tính và định giá. Dự kiến DTT năm 2018 của PLX đạt 174.700 tỷ đồng (+13,6% YoY) và LNTT đạt 5.781 tỷ đồng (+21% YoY). Với mức P/E mục tiêu là 23x, giá trị hợp lý của một cổ phiếu PLX là 89.200 VND/cp.

Rủi ro. (1) Biến động giá dầu thô. (2) Chính sách tính giá xăng dầu thay đổi.


Tks & Rgs,

Duong Trong Vinh (Mr.)
Associate
SSI – Hanoi

SSI - Securities Services
1C Ngo Quyen, Hoan Kiem, Hanoi, Vietnam
M: (+84) 975 271 089 | T: (+84 - 4) 3 936 6321 ext. 206 | E: vinhdt@ssi.com.vn | Wwww.ssi.com.vn

3 thg 8, 2018

Đầu tư hiệu quả thấp, hãy mạnh dạn chọn Xu thế đầu tư mới!


(1) Tiền nhàn rỗi nhiều đừng gửi hết vào tiết kiệm, hãy mua thêm Trái phiếu.

(2) Không đủ vốn lớn để mua Trái phiếu, chấp nhận rủi ro thấp và mong muốn linh hoạt hơn trái phiếu, hãy mua chứng chỉ quỹ trái phiếu SSI-BF.

(3) Trade Coin-Gold-Forex ko hiệu quả, thiếu minh bạch, ko được pháp luật VN bảo hộ, hãy trade chứng khoán phái sinh VN tại SSI.

(4) Trade chứng khoán phái sinh ko hiệu quả, hãy học cách đầu cơ cổ phiếu.

(5) Đầu cơ lướt sóng cổ phiếu ko hiệu quả, hãy học cách đầu tư cổ phiếu dài hạn theo phương pháp đầu tư tăng trưởng hoặc đầu tư giá trị.

(6) Đầu tư chứng khoán dài hạn ko hiệu quả hoặc ko kiểm soát được tâm lý bởi biến động ngắn hạn của Thị trường chứng khoán, hãy đầu tư dài hạn trên 1 năm vào chứng chỉ quỹ mở SSI-SCA hoặc SSI-BF.
  • Tìm kiếm thu nhập ổn định, rủi ro thấp => mua chứng chỉ quỹ trái phiếu SSI-BF.
  • Tìm kiếm những khoản lợi nhuận lớn và chấp nhận rủi ro mức cao hơn => mua chứng chỉ quỹ cổ phiếu SSI-SCA.

(7) Không biết gì về tài chính đầu tư, hãy mua chứng chỉ quỹ trái phiếu SSI-BF.

(8) Tiền nhàn rỗi nhiều mong muốn kênh sinh lời hiệu quả cao nhưng không có thời gian quản lý tài sản và nghiên cứu, hãy ủy thác đầu tư:
  • Ủy thác SSIPrestige cho quỹ SSIAM, tối thiểu 5 tỷ.
  • Ủy thác cho Môi giớiSSI nhiều kinh nghiệm thực chiến, có tâm sáng & có chia sẻ rủi ro/lợi nhuận.

Quan trọng: “Khi đầu tư bất cứ sản phẩm chứng khoán nào, đều phải phân tích thị trường để lựa chọn giải pháp đầu tư cho phù hợp. Phải có mục tiêu và kế hoạch đầu tư rõ ràng trước khi đầu tư”.

Công thức đầu tư thành công: “Mua đúng sản phẩm, đúng giá, tại đúng thời điểm”.
Anh chị cần hỗ trợ ra quyết định “lựa chọn sản phẩm phù hợp, đúng giá, đúng thời điểm mua, cũng như hỗ trợ thực hiện các giao dịch”. Hãy kết nối ngay với “Anh Vinh – SSI – Zalo/Viber/iMessage: 0975271089 – Vinhdt@ssi.com.vn hoặc điền thông tin của bạn vào Form: Click tại đây

Anh Dương Trọng Vinh - Chuyên viên tư vấn chứng khoán - Công ty chứng khoán SSI - 0975271089
Anh Dương Trọng Vinh - Chuyên viên tư vấn chứng khoán - Công ty chứng khoán SSI

31 thg 7, 2018

[Góc nhìn môi giới] 10 điều thường gặp và nên tránh khi đầu tư chứng khoán

(NDH) Thực tế, có rất nhiều loại hình đầu tư như cổ phiếu, quyền chọn, bán khống (ở Việt Nam chưa cho phép các loại hình đầu tư này), hoặc theo thu nhập cố định nhưng chính khả năng xác định và kiểm soát được tâm lý (blind spots) sẽ giúp nhà đầu tư thành công.


Đầu tư thành công và đem lại lợi nhuận lâu dài là một điều rất khó, nhưng để làm được việc này nhà đầu tư không cần phải là một thiên tài trong việc phân tích, lựa chọn cổ phiếu, hay hiểu biết sâu sắc về vĩ mô, kinh tế thế giới. Việc này liên quan đến những điều đơn giản hơn, nhưng ít được chú ý đến, đó là “Khả năng xác định và vượt qua được trạng thái tâm lý trong đầu tư.”
Thiên tài Warren Buffett đã có một câu nói rất nổi tiếng về hành vi của nhà đầu tư chứng khoán: “Success in investing doesn’t correlate with I.Q.. Once you have ordinary intelligence, what you need is the temperament to control the urges that get other people into trouble in investing” (tạm dịch là “ Thành công trong đầu tư không tương quan đến chỉ số IQ, tất cả những gì bạn cần là sự kiểm soát để không rơi vào rắc rối”).
Thực tế, có rất nhiều loại hình đầu tư như cổ phiếu, quyền chọn, bán khống (ở Việt Nam chưa cho phép các loại hình đầu tư này), hoặc theo thu nhập cố định nhưng chính khả năng xác định và kiểm soát được tâm lý (blind spots) sẽ giúp nhà đầu tư thành công. Dưới đây là 10 điều thuộc về tài chính hành vi (bahavioral finance) nhà đầu tư thường gặp và nên tránh khi đầu tư.
1. Overconfidence (quá tự tin): Điều này thể hiện qua sự tin tưởng rằng chúng ta thông minh hơn hoặc có khả năng hơn thực tế mà chúng ta có. Ví dụ: có đến 82% người nói rằng họ thuộc 30% những người lái xe an toàn nhất hoặc họ chắc chắn đến 90% rằng họ biết rõ điều đó mặc dù họ chỉ thực tế biết khoảng dưới 70%.
Trong đầu tư, Overconfidence dẫn nhà đầu tư đến việc họ có thể tự tin là tìm được cổ phiếu tương tự như Apple hoặc Priceline Inc.( Apple và PriceLine Inc. đã tăng giá 5,3 và 14 lần trong 5 năm gần đây). Nhưng thực tế, họ không thể. Ngoài ra, họ tự tin rằng họ thông minh hơn nhà đầu tư khác ở vị thế ngược lại và họ không tính toán đến những chi phí khi giao dịch như: phí giao dịch, thuế, chênh lệch mua bán (Bid-ask Spread) khi tiến hành một khoản đầu tư.
Overconfidence nguyên nhân do việc phải ra quyết định rất nhanh khi bị bao vây bởi rất nhiều thông tin trên thị trường chứng khoán và dựa trên những thành công trước đây.
Để vượt qua điều này, chúng ta phải luôn thừa nhận rằng những gì chúng ta biết ít hơn những gì chúng ta nghĩ chúng ta biết rõ (We all know less than we think we do) và luôn sẵn lòng học hỏi, thảo luận và phân tích những sai lầm đã qua.
Điều quan trọng hơn, để sự quá tự tin này không làm ảnh hưởng đến đầu tư, chúng ta phải xây dựng một danh mục đa dạng hóa và không đánh cược quá trên bất kỳ một ý tưởng hoặc khoản đầu tư nào trong danh mục đầu tư. Đôi lúc chúng ta cũng chiến thắng trên những lí do sai lầm nhưng chính điều này sẽ ghi nhận trong tâm trí và sẽ ảnh hưởng trong lần đầu tư tiếp theo.
Vậy để thành công trong đầu tư, không phải là kiếm thông tin tốt hơn mà chính là phải tìm kiếm những giá trị từ các thông tin hiện hữu một cách sáng suốt và có lý hơn.
2. Selective Memory (Trí nhớ chọn lọc): Con người thường né tránh khi nhớ về những sai lầm hoặc kinh nghiệm thất bại trong quá khứ mặc dù chính chúng ta đã gây nên. Trong đầu tư, nhà đầu tư thường không muốn nhớ những cổ phiếu đã gây ra thua lỗ mà chỉ nhớ có chọn lọc những khoản đầu tư thắng lợi để “tự” thỏa mãn và bảo vệ hình ảnh của chính chúng ta.
Chúng ta thường hay trấn an chính chúng ta bằng các câu tự nói với chính mình như “ Có lẽ đó là một quyết định không tồi khi bán cổ phiếu thua lỗ đó hoặc có lẽ chúng ta sẽ không mất nhiều tiền như chúng ta nghĩ?” Và dần dần trí nhớ của chúng ta sẽ không còn chính xác về những sự kiện đầu tư sai lầm đó.
Nguyên nhân của “Selective Memory” là có thể do tâm trí quá tập trung vào những chứng cứ hiện tại mà quên mất đi những chứng cứ trong quá khứ dẫn đến quyết định đầu tư sai lầm.
Để tránh sai lầm từ “Selective Memory” và “Overconfidence” , nhà đầu tư nên ghi nhận lại kết quả đầu tư (thắng hoặc thua) vì có thể dễ dàng nhớ 1 cổ phiếu có lợi nhuận 50% ngay lập tức nhưng việc ghi nhận toàn bộ các khoản đầu tư này sẽ giúp chúng ta nhận thấy phần lớn khoản đầu tư của chúng ta đều ở trạng thái không tốt trong một thời kỳ.
3. Self- Handicapping (Tự cản trở mình): đối lập với Overconfidence. Self-Handicapping xảy ra khi chúng ta cố gắng giải thích tương lai ảm đạm với những lý do có thể đúng hoặc không đúng. Ví dụ như chúng ta cảm thấy không tốt để bắt đầu 1 buổi trình bày thì chắn chắn buổi trình bày đó sẽ không tốt.
Khi đầu tư, chúng ta cũng không chịu nổi sự tự cản trở mình, như là tự cho rằng mình không có nhiều thời gian để nghiên cứu và trong trường hợp khoản đầu tư không như ý muốn lại tự trách mình.
Self – Handicapping & Overconfindence đều ảnh hưởng chung đến sự thành công trong đầu tư.
4. Loss Aversion (Ám ảnh thua lỗ): Nhiều nhà đầu tư cảm thấy ám ảnh khi 1 khoản đầu tư thua lỗ mặc dù phần còn lại của danh mục là an toàn. Và họ sẵn sàng bán một cổ phiếu chỉ với một lợi nhuận nho nhỏ, nhưng lại nhất định không bán một cổ phiếu đang rớt thảm hại với một lí do là nó sẽ trở lại nhưng thực tế điều đó không bao giờ xảy ra.
Một ví dụ khác là chúng ta thà không mất 5 USD hơn là tình cờ phát hiện được 5 USD. Loss aversion khiến nhà đầu tư không dám thực hiện đầu tư do nỗi sợ hãi thua lỗ.
Để tránh cảm giác loss aversion, nhà đầu tư nên đa dạng hóa danh mục đầu tư, mở lòng và học hỏi kiến thức để luôn tìm thấy cơ hội phía trước.
5. Anchoring (Mỏ neo):Ví dụ khi chúng ta hỏi một cư dân của TP. HCM về dân số của Hà Nội, họ có xu hướng dùng con số dân cư của TP. HCM họ biết và điều chỉnh xuống và áp cho dân số của Hà Nội, nhưng như vậy là không đúng. Khi dự báo một điều không rõ, chúng ta có xu hướng dính chặt với những gì chúng ta biết.
Trong đầu tư, khi một cổ phiếu giảm giá, nhà đầu tư có xu hướng “dính” với giá mà họ đã mua cổ phiếu đó và các yếu tố khác như thu nhập cổ phiếu cao, thị phần tốt trước khi nó giảm giá và họ quyết định không bán khi tình tế thay đổi, và chờ nó trở về giá hòa vốn ban đầu. Nhưng thực tế điều đó không xảy ra.
Ví dụ như DELL từng là một công ty thống trị ngành máy tính trong 2 thập niên, nhưng lợi thế đó không còn và đã lỗi thời thì tại sao chúng ta lại giữ DELL trong danh mục đầu tư?
Nhà đầu tư nên tự hỏi mình: “ Khoản đầu tư này có đem lại lợi nhuận không?” Nếu không, tại sao tôi lại phải giữ nó?” . Trả lời một cách thật lòng, sẽ giúp nhà đầu tư có một quyết định hợp lý.
6. Sunk Costs (chi phí chìm): Ví dụ: như chúng ta bỏ 100 USD để mua một vé xem kịch và cảm thấy vở kịch này thật kinh khủng và vì chính chúng ta bỏ tiền ra mua vé đó, nên chúng ta có xu hướng tham dự vở kịch đó đến hết nhưng nếu vé vở kịch đó được cho bởi một người bạn, thì chúng ta dễ dàng quyết định dự hoặc không tham dự khi biết vở kịch đó tồi.
Trong đầu tư, khi chúng ta dành nhiều thời gian, công sức để nghiên cứu 1 cổ phiếu và nhận thấy đó là khoản đầu tư không tốt nhưng về bản năng chúng ta lại thích nó do chúng ta đã dành nhiều thời gian cho nó và có xu hướng chọn nó.
7. Confirmation Bias (Xu hướng khẳng định – Bảo thủ): ví dụ như chúng ta sở hữu 1 chiếc xe Honda, ta có xu hướng tin tưởng những thông tin ủng hộ những kinh nghiệm quá khứ khi ta mua nó hơn là những thông tin đối lập.
Trong đầu tư, khi mua một quỹ đầu tư chuyên về những cổ phiếu ngành y tế, chúng ta có xu hướng thích hoặc cường điệu hóa về về ngành Y tế và phớt lờ/ giảm bớt đi những thông tin không tốt về ngành đó mà chúng ta nghe được.
Để tránh thất bại này, chúng ta nên tìm kiếm thông tin cả hai phía, điều này sẽ giúp nhà đầu tư tránh bị trói chặt vào bất kỳ một ý tưởng nào, quyết định độc lập hơn và ngăn tình trạng “ falling in love with a stock”. Xa hơn, chung ta sẽ có cơ hội tìm thấy lí do khoản đầu tư của chúng ta là sai và có cơ hội sửa sai sớm hơn.
8. Mental Accounting: Ví dụ như ta chơi bài roulette với 100 USD và bất ngờ thắng 200 USD, chúng ta có xu hướng nghĩ rằng sẽ chơi rủi ro tiếp với 200 USD vì 200 USD này không phải là tiền của chúng ta và không phải cực nhọc kiếm được và sẽ dễ dàng đồng ý với việc đánh rủi ro với nó.
Một ví dụ khác: nếu chúng ta ở quận 1 và dự định mua 1 cái tivi với giá 500 USD tại quận 1 nhưng ở quận 3 chỉ bán với giá 400 USD thì chúng ta có xu hướng di chuyển xuống quận 3 để mua vì tiết kiệm được 100 USD. Nhưng nếu mua một chiếc xe máy với giá 5.000 USD tại quận 1 và 4.900 USD tại quận 3, ta lại có xu hướng mua luôn tại quận 1 (mặc dù sẽ mất đi 100 USD so với ở quận 3).
Để tránh điều này, nhà đâu tư nên tính toán Total return on investment (ROI) trên các khoản đầu tư của mình.
9. Herding (Tính bầy đàn): Có hàng ngàn cổ phiếu và chúng ta không thể biết rõ hết chúng tất cả. Và chúng ta thường xuyên bị bao vây bởi những ý tưởng của môi giới, tivi, tạp chí, các trang web về đầu tư, bạn bè… Và chắc hẳn những ý kiến đó nghe có vẻ hấp dẫn hơn so với cổ phiếu mà chúng ta đang giữ. Thực tế, một cổ phiếu khi được chú ý bởi số đông do sự tăng giá của nó chứ không vì sự cải thiện nội tại của doanh nghiệp.
Thực tế, nhà đầu tư thường giao dịch quá nhiều dựa trên những lý do kg đúng, nghe theo báo chí, tin tức, bạn bè. Và chúng ta có thể tránh sai lầm khi chúng ta lựa chọn cổ phiếu cẩn thận hơn, và tránh xa đám đông hoặc các tin đồn để tránh những khoản đầu tư không theo mục tiêu đầu tư của mình.
10. Recency Bias: là suy nghĩ cho rằng những xu hướng hoặc mô hình trong quá khứ gần sẽ lập lại hoặc tiếp tục trong tương lai do vậy, những hành động trong tương lai sẽ dựa trên những nhận thức của quá khứ.
Ví dụ như, thị trường nhà đất đang ở trong tình trạng xấu và nhà đầu tư luôn khăng khăng cho rằng nó sẽ tiếp tục mãi mãi như vậy. Nhưng chúng ta đều biết, chu kỳ của nền kinh tế sẽ diễn ra và trở lại.
Thật may mắn cho những ai nắm giữ cổ phiếu của Home Depot, Lowe’s hoặc Paychex (Home depot đã tăng giá gấp 4 lần khi kinh tế Mỹ hồi phục trong 5 năm gần đây. Và Lowe’s đã tăng giá 2,5 lần kể từ 2009) ở thời điểm này. 
Nguyễn Ngọc Thạch – Trưởng phòng Môi giới khách hàng cá nhân 6 – CTCP Chứng khoán Sài Gòn SSI

18 thg 7, 2018

Ngó nhìn một vài cổ phiếu có tín hiệu tốt. Thị trường đã đủ hấp dẫn!

GÓC NHÌN THỊ TRƯỜNG – TÍCH CỰC
  • Thị trường chứng khoán tháng 6 và đầu tháng 7 tiếp tục nối dài xu hướng giảm tạo ra chuỗi giảm mạnh nhất trong nhiều năm.
  • Từ ngày 17/7/2018 khối lượng giao dịch dần được cải thiện, kết hợp với tâm lý của nhà đầu tư tích cực hơn khi nhiều cổ phiếu đã có mức giảm xấp xỉ 40-50% về vùng giá tốt như BID CTG LPB STB VPB…, chỉ số thị trường có nhiều tín hiệu thoát khỏi xu hướng giảm.
  • Thị trường Việt Nam đang giao dịch 17.2x, ở mức định giá tương đương với Malaysia (17.7x) và thấp hơn thị trường Indonesia (20.6x) và Philippines (18.9x).
  • Định giá của thị trường VN cũng chưa rẻ hơn nhiều so với các thị trường trong khu vực.
  • Sau khi loại trừ một số cổ phiếu vốn hóa lớn có chỉ số PE quá cao làm sai lệch chỉ số PE toàn thị trường thì TTCK VN đang rất rẻ so với các nước trong khu vực tại Châu Á.
  • Quan trọng: Theo hệ thống phân tích chỉ báo dòng tiền và xu hướng giá, nhiều cổ phiếu bước vào xu hướng tăng, đạt điểm mua chuẩn. Do đó, nhà đầu tư nên tận dụng các nhịp rung lắc để mua vào các cổ phiếu thoát trend giảm, có dòng tiền tích cực được thống kê dưới đây, cơ hội LONG (MUA VÀO) hợp đồng chỉ số Phái sinh.


Phân tích kĩ thuẬt vnindex – TÍCH CỰC
Tận dụng các nhịp rung lắc mua vào các cổ phiếu và mua các hợp đồng chỉ số Phái sinh

MỘT SỐ CỔ PHIẾU – TÍN HIỆU TỐT
  • VNM: Mua quanh 167-168. Mục tiêu ngắn hạn 188 & trung hạn 210.
  • OIL: Mua quanh 13.3-13.6. Mục tiêu ngắn hạn 16, 18.2 & trung hạn 21, 27.
  • BSR: Mua quanh 14.3-14.8. Mục tiêu ngắn hạn 17, 19.6 & trung hạn 26, 33.
  • PVD: Mua quanh 12.7-13.1. Mục tiêu ngắn hạn 17
  • PVS: Mua quanh 16.3-17.1. Mục tiêu ngắn hạn 21
  • DPM: Mua quanh 17.3-17.7. Mục tiêu ngắn hạn 20



















CHỨNG KHOÁN PHÁI SINH ƯU ĐÃI LỚN
  • Chứng khoán phái sinh đang có ưu đãi lớn tại SSI với 5.000 VNĐ/Hợp đồng.
  • Anh chị cần mở thêm tài khoản giao dịch phái sinh, ký quỹ,… đăng ký mở online, Click vào đây.
Hotline tư vấn và đăng ký mở tài khoản tại SSI: Anh Vinh - 0975.271.089

13 thg 7, 2018

Hướng dẫn cập nhật dữ liệu Realtime Intraday Chứng khoán phái sinh và Chứng khoán cơ sở cho AmiBroker

Công cụ AmiBroker có thiết lập hệ thống phân tích chỉ báo, Robot phân tích điểm mua bán ứng dụng cho chứng khoán cơ sở và phái sinh.

Kết nối dữ liệu RealTime Intraday và EOD cho Chứng khoán cơ sở & phái sinh qua phần mềm DataFeed vs AmiBroker

4 nội dung chính:
1. Tải và cài đặt phần mềm tải dữ liệu DataFeed do Công ty chứng khoán VNDirect cung cấp. (xem video trước)
2. Cập nhật dữ liệu EOD & Intraday hàng ngày trên DataFeed.
3. Cấu hình dữ liệu EOD chart ngày-tuần-tháng

4. Cấu hình dữ liệu INTRADAY theo dõi theo đồ thị 1-5-15 phút cho Chứng khoán cơ sở và Chứng khoán phái sinh.










- Link tải phần mềm DataFeed: https://datafeed.vndirect.com.vn/

- Link tải dữ liệu Intraday lịch sử: https:/bit.ly/DF-Intraday

- Hướng dẫn cài đặt DataFeed cập nhật dữ liệu phái sinh và chứng khoán cơ sở, xem từ 0"-3'36" nhé: https://youtu.be/ZOeM-AZ41rU

Liên hệ: A Vinh - SSI - 0975271089